Binh chủng Đặc công phát huy truyền thống vẻ vang “16 chữ vàng” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19/3/1967

19/03/2024 09:30:29 20250

Binh chủng Đặc công là binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được tổ chức, trang bị và huấn luyện đặc biệt, có phương pháp tác chiến linh hoạt, táo bạo, bất ngờ, thường dùng để đánh các mục tiêu hiểm yếu nằm sâu trong đội hình chiến đấu, bố trí chiến dịch và hậu phương của địch.

<a title=

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Lễ thành lập Binh chủng Đặc công ngày 19/3/1967 (Ảnh tư liệu)

 

Cách đây 57 năm, trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đế quốc Mỹ đưa quân viễn chinh, quân đội chư hầu vào nước ta, tiến hành “chiến tranh cục bộ” miền Nam và “chiến tranh phá hoại” miền Bắc lần hai, ngày 19/3/1967, tại Trường Bổ túc cán bộ Dân tộc Trung ương (nay là Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khu vực 1), Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Đảng, Nhà nước, Quân đội đến xem Bộ đội Đặc công trình diễn kỹ thuật, chiến thuật và công bố thành lập Binh chủng Đặc công. Trong buổi lễ trọng thể đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “… Đặc công tức là công tác đặc biệt, là vinh dự đặc biệt, cần phải cố gắng đặc biệt, các chiến sĩ đặc công được tin tưởng đặc biệt, bất kỳ nhiệm vụ gì, bất kỳ nhiệm vụ đặc biệt nào cũng phải hoàn thành và hoàn thành cho tốt. Bất kỳ khó khăn đặc biệt nào cũng phải vượt qua, cũng phải khắc phục cho kỳ được… Do chiến tranh du kích phát triển cao, đặc biệt cao, chiến thuật du kích lấy ít đánh nhiều và đi không tiếng về không tăm; bây giờ các chú cũng thế, cũng phải lấy ít đánh nhiều, nhưng mà to hơn nữa, cao hơn nữa, lấy ít đánh nhiều, lấy ít thắng nhiều”. Lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành phương châm, tư tưởng chỉ đạo hành động của Binh chủng Đặc công trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Bằng trí thông minh, lòng dũng cảm, không ngại hy sinh, gian khổ, sự đoàn kết, nỗ lực phấn đấu liên tục của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, Binh chủng Đặc công đã không ngừng lớn mạnh.

Lật lại những trang sử hào hùng của dân tộc, Binh chủng Đặc công ra đời là sản phẩm chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích phát triển cao. Đó là sự kế thừa, phát triển cách đánh giặc, nghệ thuật quân sự độc đáo “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” của dân tộc ta lên tầm cao mới trong đường lối chiến tranh của Đảng. Quá trình hình thành và phát triển của Binh chủng Đặc công gắn liền với những trang sử vàng của dân tộc.

Cách đánh đặc công đã xuất hiện ở Việt Nam từ gần 1.000 năm nay. Thế kỷ thứ XIII trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, quân đội nhà Trần đã phát triển cách đánh tập kích bằng lực lượng nhỏ, tinh nhuệ, thiện chiến trên bộ, trên sông, trên biển. Trần Quốc Tuấn đã chỉ đạo: “Cứ liều đánh ở trên thuyền, không bằng ngầm đâm ở dưới thuyền, cứ phá quân địch không bằng phá thuyền của địch”. Thực hiện phương hướng đó, tướng Yết Kiêu đã tổ chức, huấn luyện những đội “Trạo Nhi” gồm những dân chài khỏe mạnh, bơi lội giỏi chuyên làm nhiệm vụ phá hoại căn cứ thủy quân của giặc. Nhiều trận, đội “Trạo Nhi” đã bí mật lọt hẳn vào căn cứ thủy quân dùng chất cháy đốt thuyền và lặn xuống nước đục thuyền, tiêu diệt nhiều quân Nguyên - Mông ở Chương Dương, Phả Lại, Chí Linh và có lần bắt sống được tướng giặc. Năm 1410, Trần Nguyên Hãn vận dụng phép dùng binh “Quân cốt tinh không cốt nhiều” đã tổ chức một trận đánh nổi tiếng với gần 200 nghĩa quân, cởi trần nguỵ trang, dùng thang bí mật leo vào thành Xương Giang, Việt Trì bất ngờ tiến công liên tục tiêu diệt gọn quân Minh ở trong thành.

http://mod.gov.vn/wcm/connect/e4191f1a-aa41-471e-9906-7880837c2197/3/1.jpg?MOD=AJPERES

Bộ đội Đặc công luyện tập vượt chướng ngại vật trên biển (Ảnh tư liệu)

 

Cách đánh này được quân và dân ta vận dụng rộng rãi trong các thế kỷ tiếp theo. Trên chiến trường Nam Bộ, thực dân Pháp tăng cường xây dựng hệ thống đồn bốt xung quanh các thị xã, thành phố và trên các đường giao thông quan trọng, nhằm bao vây, chia cắt, ngăn chặn lực lượng vũ trang Việt Minh. Qua nhiều lần thử nghiệm thắng lợi, đặc biệt là trận đánh tiêu diệt tháp canh (đồn) cầu Bà Kiên đêm ngày 18 rạng sáng ngày 19/3/1948 do đồng chí Trần Công An chỉ huy được thừa nhận là trận đánh đặc công đầu tiên trong thời kỳ kiện đại, đã mở ra một khả năng mới đánh địch trong vị trí cố thủ vững chắc, song lúc đó vẫn gọi là cách “Công đồn đặc biệt”. Tháng 11/1949, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 tổ chức hội nghị chuyên đề về đánh tháp canh với sự tham gia của các cán bộ, chiến sĩ đã từng tham gia đánh tháp canh và đưa ra cách đánh tháp canh mới. Với loại vũ khí phá tường FT, đêm 21 rạng sáng ngày 23/3/1950, trên chiến trường Biên Hòa, 50 tổ chiến đấu đồng loạt sử dụng FT đánh vào 50 tháp canh, gây hoang mang lớn cho địch. Từ trận đánh này, Tỉnh đội Biên Hòa và Phòng Tham mưu Quân khu 7 tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và đặt tên cho cách đánh này là “công đồn đặc biệt” gọi tắt là đặc công. Thuật ngữ đặc công chính thức được sử dụng để chỉ cách đánh đặc biệt, đồng thời, chỉ về một tổ chức vũ trang đặc biệt của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Sau khi cách đánh đặc công xuất hiện, Nam Bộ đã chú trọng nghiên cứu phát triển, không ngừng hoàn thiện cách đánh lợi hại, độc đáo này, và trở thành cách đánh không thể thiếu được của lực lượng vũ trang nhân dân. Xuất phát từ nhiệm vụ chiến đấu, mục tiêu của địch, lực lượng đặc công ở miền Nam đã có bước phát triển mới với quy mô ngày càng lớn. Một thế trận đặc công được tổ chức tương đối hoàn chỉnh với 03 thành phần: đặc công đánh bộ, đặc công nước, đặc công biệt động với quy mô tổ chức phổ biến là tổ, mũi, đội, tiểu đoàn, đứng chân ở khắp các địa bàn chiến lược. Lực lượng đặc công đánh bộ có khả năng tác chiến ở cả đồng bằng, rừng núi và đô thị, đánh vào các mục tiêu trên bộ. Đặc công nước chuyên đánh phá mục tiêu trên sông, biển, đánh phá cầu, phà... Biệt động chuyên hoạt động và đánh các mục tiêu ở đô thị và vùng ven, vùng sâu, khi cần có thể đánh các mục tiêu dưới nước, ở vùng nông thôn đồng bằng và rừng núi. Các địa phương ở Bắc Bộ đã kết hợp cách đánh kỳ tập với cường tập đã tiêu diệt hàng loạt đồn bốt, cứ điểm của Pháp, đồng thời tổ chức một số lực lượng chuyên, tinh để đánh phá tàu, thuyền của địch bằng cách đánh đặc công. Trong giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống Pháp và trong chiến dịch Điện Biên Phủ, bộ đội đặc công đã phát triển trên các chiến trường, có sở trường tác chiến ở vùng sau lưng địch, bước đầu có kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng trong các chiến dịch. Lực lượng đặc công đã đánh địch trên cả mặt trận chính diện và cả ở hậu phương địch. Một số trận đánh tiêu biểu của bộ đội đặc công như trận đánh bom Phú Thọ, kho bom Tân An, đánh sân bay Cát Bi, sân bay Gia Lâm...

Sau khi hiệp định Giơnevơ (năm 1954) được ký kết, Đảng và quân đội đã lựa chọn và cử lực lượng đặc công ở miền Bắc vào miền Nam xây dựng lực lượng và chiến đấu. Tháng 6/1958, Bộ Tư lệnh miền Đông Nam Bộ được thành lập và lực lượng vũ trang miền Đông có 01 đại đội đặc công lấy phiên hiệu là Đại đội 60. Đây là đại đội đặc công đầu tiên ở miền Nam. Đại đội 60 cùng với các tổ, nhóm đặc công ở các địa phương bắt đầu tiến công vào hệ thống đồn bốt và cơ quan kìm kẹp của địch. Tháng 12/1962, Quân ủy Trung ương họp để ra phương châm hoạt động của các lực lượng vũ trang cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới, trong đó, nhấn mạnh: hình thức hoạt động chủ yếu ở vùng hậu phương địch là “Dùng đặc công đánh vào các kho tàng, đạn dược vũ khí, chất hóa học, xăng dầu, vào các sân bay, bến tàu, các nơi tập trung cơ giới, pháo binh... và đánh vào lực lượng Mỹ”. Các đội đặc công chuyên môn bắt đầu đi vào các chiến trường miền Nam, bổ sung cho các đơn vị chiến đấu ở các quân khu, các tỉnh. Sự ra đời và phát triển nhanh chóng của các lực lượng đặc công cơ động và đặc công chuyên trách trên miền Bắc đã đánh dấu một bước phát triển mới về tổ chức lực lượng của bộ đội đặc công. Thực hiện chủ trương và phương châm tác chiến của Đảng, Trung ương Cục giao cho đặc công nhiệm vụ: làm nòng cốt trong việc tiêu diệt hệ thống đồn bốt nhỏ, phối hợp với các lực lượng phát triển khác tiến công các chi khu, quận lỵ, trại, lực lượng đặc biệt, diệt tề, phá “Ấp chiến lược”; đánh phá phương tiện chiến tranh, tiêu diệt sinh lực địch. Trong thời kỳ đánh bại “Chiến tranh đặc biệt”, một trong những nét nổi bật nhất của tác chiến đặc công là lần đầu tiên đã tham gia tác chiến cùng với bộ đội chủ lực trong những đợt hoạt động mang tính chất chiến dịch và giành nhiều chiến công. Những chiến công của lực lượng đặc công, biệt động trong thời kỳ chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” đánh dấu bước phát triển quan trọng của nghệ thuật tác chiến trong nhiệm vụ đánh sâu, đánh hiểm, nhằm tiêu diệt các cơ quan đầu não và trung tâm điều hành chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai. Sự phát triển của lực lượng đặc công và nghệ thuật tác chiến đặc công đã mở ra một triển vọng mới và những kinh nghiệm phong phú trong nghệ thuật tiến công của lực lượng vũ trang ta trong các giai đoạn sau của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những trận đánh giành thắng lợi của bộ đội đặc công đã khẳng định vị trí của cách đánh đặc công, cũng như sự cần thiết phải thành lập một binh chủng chuyên về tác chiến du kích đã được hình thành.

Tính từ trận đánh đặc công đầu tiên năm 1948 đến trước khi thanh lập 19/3/1967, lực lượng đặc công đã đánh gần 20.000 trận vào các loại mục tiêu, trong đó, có nhiều mục tiêu mà đối phương cho là bất khả xâm phạm như: Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Sài Gòn, Tổng Nha cảnh sát, Đài phát thanh. Hầu hết các sân bay bến cảng; sở chỉ huy các cấp lữ đoàn, sư đoàn, quân đoàn; các loại kho tàng chiến lược, chiến thuật cố định và dã ngoại; các loại cầu giao thông; các trận địa hoặc căn cứ hỏa lực và các loại tàu thuyền của quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam đều bị đặc công đánh. Cánh đánh đặc công được vận dụng trên các địa hình: rừng núi, đồng bằng, thành thị và cả trên sông, biển, hải đảo. Lực lượng đặc công đã lập được nhiều chiến công vang dội và được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Trở lại sự kiện ra đời của “Binh chủng Đặc công” mới thấy, với 9 tiểu đoàn lúc mới thành lập; đến nay, Binh chủng Đặc công đã trở thành một binh chủng lớn mạnh về nhiều mặt và luôn luôn là “binh chủng đặc biệt” của những người chiến sĩ đặc biệt. Trải qua giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, phát huy cách đánh “công đồn đặc biệt”, Binh chủng Đặc công hiện nay đã hình thành 03 loại lực lượng: Đặc công bộ, đặc công nước và đặc công biệt động.

Khắc ghi lời dạy của Bác Hồ, sau khi ra đời, lực lượng đặc công, biệt động là lực lượng mũi nhọn tiến công vào các cơ quan đầu não địch, những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng của địch ở hầu hết các thành phố, thị xã, góp phần làm nên một chiến thắng Mậu Thân 1968, tạo nên bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương và chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Đặc công, lực lượng đặc công trên chiến trường được bố trí ở các vùng chiến lược và các mục tiêu chiến lược ở những địa bàn trọng điểm, tạo được thế tiến công mới. Mỗi thứ quân, mỗi cấp, mỗi vùng đều có những mũi nhọn đánh sâu, đánh hiểm vào sau lưng địch, trong lòng địch, trong các chiến dịch và tình huống chiến tranh trên phạm vi toàn miền. Đây là điều kiện cơ bản để lực lượng đặc công, biệt động tác chiến có hiệu quả trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, góp phần cùng quân và dân cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975).

Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lực lượng đặc công đã cùng với các lực lượng vũ trang khác mưu trí dũng cảm bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập của đất nước, Binh chủng Đặc công tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng trong chiến đấu, chủ động và sáng tạo trong xây dựng, huấn luyện và công tác, bộ đội đặc công đã trưởng thành về mọi mặt, từng bước tiến lên chính quy, tinh nhuệ và thiện chiến nhất định hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Binh chủng Đặc công luôn giữ vững niềm tin, lý tưởng, nêu cao lòng tự hào, tinh thần yêu nước, ý chí quyết chiến, quyết thắng của bộ đội Đặc công trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; góp phần xây dựng binh chủng “cách mạng, chính quy, đặc biệt tinh nhuệ, tiến lên hiện đại”. Với những chiến công và thành tích xuất sắc lập được, Binh chủng Đặc công đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý. 

Binh chủng Đặc công trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước, xứng đáng với truyền thống vẻ vang “Anh dũng tuyệt vời; Mưu trí sáng tạo; Đánh hiểm thắng lớn” (Ảnh tư liệu)

 

Trải qua chặng đường vẻ vang xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Đặc công nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh; mưu trí, dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu; đoàn kết, chủ động, sáng tạo trên các mặt công tác, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam giao phó, xứng đáng với truyền thống vẻ vang 16 chữ vàng: “đặc biệt tinh nhuệ, anh dũng tuyệt vời, mưu trí sáng tạo, đánh hiểm thắng lớn” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong tình hình mới, lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và đang tạo những chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ; phòng tránh và khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Nhưng riêng với bộ đội đặc công, bước vào giai đoạn mới, lời huấn thị của Bác với bộ đội đặc công tiếp tục là động lực để mỗi cán bộ, chiến sĩ phấn đấu thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Hệ thống lý luận và tài liệu huấn luyện quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật của Binh chủng Đặc công đã từng bước được hoàn chỉnh, trong đó khẳng định chức năng chiến đấu của đặc công là: Tiến công những mục tiêu hiểm yếu, quan trọng trong hậu phương và trong chiều sâu đội hình đối phương cả trên đất liền, sông, biển, hải đảo. Khẳng định cách đánh đặc công là cách đánh bằng lực lượng ít nhưng chất lượng cao, trang bị gọn, nhẹ, có uy lực, luồn sâu tạo thế có lợi hơn hẳn đối phương, đánh gần, đánh hiểm, đánh nhanh, đạt hiệu suất cao, hiệu quả lớn, trong đó, có nhiều trận thắng lợi đạt giá trị chiến dịch, chiến lược...

Để phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, Bộ đội Đặc công cần phải nắm vững một số vấn đề cơ bản trong tổ chức xây dựng lực lượng: Cần quán triệt sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nhiệm vụ quân sự trong từng giai đoạn cách mạng, chức năng nhiệm vụ của lực lượng đặc công và khả năng trang bị của quân đội để tổ chức xây dựng lực lượng đặc công. Chiến tranh nhân dân là toàn dân đánh giặc, đánh giặc toàn diện. Đặc công tác chiến trong hậu phương đối phương trong chiều sâu đội hình đối phương tất yếu phải có sự che chở giúp đỡ của nhân dân và lực lượng vũ trang tại chỗ mới tồn tại và giành thắng lợi trong tác chiến. Trong kháng chiến chống Mỹ, có những đơn vị đặc công tồn tại, tác chiến hàng năm, hàng chục năm trong hậu phương đối phương. Chiến tranh nhân dân là một yếu tố quan trọng, là “bà đỡ” để tổ chức lực lượng đặc công. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, từng bước chúng ta đã và đang xây dựng hoàn thiện các khu vực phòng thủ tỉnh, thành, quận, huyện, các làng xã chiến đấu trên các địa bàn trong cả nước, đây là điều kiện rất tốt để đặc công phát huy khả năng tác chiến trong hậu phương và trong chiều sâu đội hình địch.

Trên cơ sở đường lối chiến tranh nhân dân, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, chúng ta có thể xây dựng lực lượng đặc công trong ba thứ quân: đặc công chủ lực, đặc công địa phương, đặc công dân quân tự vệ; tổ chức ba loại đặc công: đặc công đánh bộ (đặc công bộ), đặc công đánh dưới nước (đặc công nước) và đặc công biệt động; tổ chức hai thành phần: đặc công cơ động và đặc công tại chỗ. Hiện nay, đặc công được tổ chức trong bộ đội chủ lực của Bộ, ở các quân khu và Quân chủng Hải quân với quy mô thích hợp và có đủ các loại đặc công để sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ... và sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Tuỳ tình hình cụ thể có thể mở rộng lực lượng trong cả ba thứ quân. Coi trọng việc chỉ đạo tổ chức nghiên cứu khoa học đặc công toàn diện như: tổ chức xây dựng lực lượng; nghệ thuật quân sự; công tác Đảng, công tác chính trị; công tác bảo đảm vũ khí trang bị kỹ thuật và công tác bảo đảm hậu cần.... vì đặc công có nhiều nét đặc thù về tổ chức cũng như cách đánh mà trên thế giới không có. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ rõ: “... Đặc công là một khoa học nên ta phải nghiên cứu quy luật hoạt động của địch và tổng kết kinh nghiệm xây dựng và chiến đấu của ta một cách rất nghiêm túc để rút ra những kết luận về tổ chức, biên chế, kỹ thuật trang bị...”. Thực tiễn những năm qua, công tác nghiên cứu đặc công đã góp phần quan trọng để xây dựng lực lượng đặc công chiến thắng, trưởng thành và luôn giữ được vị trí là một binh chủng chiến đấu đặc biệt tinh nhuệ - một binh chủng không thể thiếu trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.

Lê Văn Sơn

Bản in
  • Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” bắt đầu diễn ra ngày 13/3/1954 - “Quyết định lịch sử” thay đổi vận mệnh dân tộc

    Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” bắt đầu diễn ra ngày 13/3/1954 - “Quyết định lịch sử” thay đổi vận mệnh dân tộc

  • Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam

    Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam

  • Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước

    Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước

  • Kỷ niệm 69 năm Thầy thuốc Việt Nam (27/02) - Phát huy truyền thống vẻ vang “Lương y như từ mẫu” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Kỷ niệm 69 năm Thầy thuốc Việt Nam (27/02) - Phát huy truyền thống vẻ vang “Lương y như từ mẫu” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

  • Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ kính yêu viết “thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” (14/3/1954-14/3/2024)

    Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ kính yêu viết “thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” (14/3/1954-14/3/2024)

  • Đang truy cập:   367
  • Hôm nay:   714
  • Tháng hiện tại:   200046
  • Tổng lượt truy cập:   1095540