KHÁI QUÁT LỊCH SỬ TỈNH ĐỒNG NAI

­­­

 

I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

1. Địa lý tự nhiên

Về vị trí địa lý: Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có cơ sở hạ tầng và kinh tế phát triển năng động, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh và phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tọa độ địa lý từ 10°29’58” đến 11°34’57” vĩ độ Bắc, từ 106°43’56” đến 107°36’46” kinh độ Đông.

Về địa hình: Tỉnh Đồng Nai thuộc rìa Tây Nam của đới nâng bóc mòn Đà Lạt, tiếp giáp với đới sụt - tích tụ đồng bằng sông Cửu Long, có địa hình[1] chủ yếu là các cao nguyên và đồng bằng (tích tụ thấp ven sông, đầm lầy) chiếm 88,7% diện tích, phân bố khắp tỉnh với độ cao từ 1 - 2m đến 320 - 380m, tương đối bằng phẳng hoặc lượn sóng; núi chiếm 5,8% diện tích, phân bố rải rác ở phía Đông và Đông Bắc, cao 200 - 838m và hồ Trị An chiếm 5,5% diện tích. Các loại địa hình này tương đối thuận lợi cho việc phát triển giao thông, xây dựng hạ tầng, các khu đô thị, khu công nghiệp và phát triển nông, lâm, ngư nghiệp như: trồng cây ăn quả, lúa nước, cây công nghiệp, chăn nuôi đại gia súc và gia cầm, nuôi trồng thủy sản...

Về thổ nhưỡng: Tỉnh Đồng Nai có các loại đất phong phú và phì nhiêu, gồm 10 loại đất chính được chia thành 03 nhóm chung như: Các loại đất hình thành trên đá bazan, gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía Bắc và Đông Bắc của tỉnh, thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày (cao su, cà phê, tiêu…). Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét, thường có độ phì nhiêu kém, gồm đất xám, nâu xám chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía Nam và Đông Nam của tỉnh, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày, một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày. Các loại đất hình thành trên phù sa mới, gồm đất phù sa, đất cát, phân bố chủ yếu ven sông Đồng Nai, sông La Ngà, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…

Về khí hậu: Tỉnh Đồng Nai thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Khí hậu khá đa dạng, có nhiệt độ cao quanh năm, bình quân là 25,9°C, số giờ nắng trung bình là 2.454 giờ, lượng mưa tương đối lớn, khoảng 2.301,6mm và phân bố theo vùng và theo mùa, độ ẩm trung bình là 82%; chế độ bức xạ, nhiệt, nắng, độ ẩm, gió tương đối cao, ổn định và phân bố khá đồng đều.

Về tài nguyên thiên nhiên: Tỉnh Đồng Nai có tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú gồm tài nguyên khoáng sản (vàng, thiếc, kẽm, puzơlan, laterit, đá, cát...), tài nguyên rừng, tài nguyên nước (hệ thống hồ đập và sông ngòi); cảnh quan rất phong phú, rừng được xếp trong hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa với tổng diện tích là 171.132 ha gồm 03 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất) với đặc trưng cơ bản là động, thực vật phong phú, đa dạng. Tiêu biểu là Vườn quốc gia Cát Tiên và Khu Bảo tồn Thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Hiện tỷ lệ che phủ rừng là 29,19%, so với các tỉnh, thành vùng Đông Nam bộ, Đồng Nai là tỉnh có tỷ lệ che phủ rừng cao nhất.

Về diện tích và dân số: Theo số liệu thống kê, tính đến hết năm 2022[2], tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên 5.863,62 km2, chiếm khoảng 1,9% diện tích cả nước; có dân số 3.255.806 người, chiếm khoảng 3,2% dân số cả nước. Tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, 170 đơn vị cấp xã. Thành phố Biên Hòa là Trung tâm hành chính của tỉnh.

 

 

Đơn vị hành chính

(Cấp huyện)

Diện tích

(Km2)

Dân số

(Người)

 Số đơn vị hành chính  (Cấp xã)

 

Toàn tỉnh

5.863,62

3.255.806

170

1.

Thành phố Biên Hòa

263,62

1.117.037

30

2.

Thành phố Long Khánh

192,98

163.899

15

3.

Huyện Cẩm Mỹ

462,58

144.269

13

4.

Huyện Định Quán

972,88

190.034

14

5.

Huyện Long Thành

430,62

261.630

14

6.

Huyện Nhơn Trạch

376,78

281.933

12

7.

Huyện Tân Phú

774,93

154.244

18

8.

Huyện Thống Nhất

248,53

169.323

10

9.

Huyện Trảng Bom

327,24

369.207

17

10.

Huyện Vĩnh Cửu

1.089,14

169.147

12

11.

Huyện Xuân Lộc

724,32

235.038

15

 

2. Địa lý hành chính

Thời kỳ trước năm 1698, qua khai quật các di chỉ khảo cổ Bình Lộc, Dầu Giây, Gia Tân, Hàng Gòn, Suối Chồn, Bình Đa,... cho thấy, từ xa xưa vùng đất Đồng Nai đã có con người sinh sống, họ chế tác những công cụ đá, gốm, đồng thau, sống ở những ngôi nhà sàn bằng gỗ, hình thành nền văn hóa đặc trưng dọc theo hai bờ sông Đồng Nai. Trải qua những thăng trầm, biến thiên lịch sử gắn liền với vương quốc cổ Phù Nam tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VIItừ thế kỷ VII về sau, diễn ra sự tranh chấp giữa Phù Nam với Chân Lạp, giữa Chân Lạp với Vương quốc Chăm Pa đã biến vùng đất miền Đông Nam bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng trở nên hoang vu, rừng rậm bao phủ, không một dân tộc nào thực sự làm chủ vùng đất này. Những di chỉ khảo cổ ở Nam Cát Tiên, Gò Bường, Gò Ông Tùng… với những phế tích đền thờ tín ngưỡng cho thấy rõ điều đó và trong Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn đã viết: “Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, Cửa Đại, Cửa Tiểu trở vào, toàn là rừng rậm hàng ngàn dặm[3]”. Vùng đất này trở thành nơi mời gọi mọi người đến chung tay xây dựng. Người Việt và các dân tộc khác đã di dân vào đây sinh sống, lao động, giao lưu mua bán ở khu vực Đồng Nai, biến vùng “Đồng Nai xứ sở lạ lùng. Dưới sông sấu lội, trên giồng cọp um” thành vùng đất trù phú “Nhà Bè nước chảy chia hai. Ai về Gia Định Đồng Nai thì về”.

Thời kỳ 1698-1862, Chúa Nguyễn và Nhà Nguyễn xác lập chủ quyền ở vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai. Trải qua quá trình khai phá, địa lý hành chính vùng đất Biên Hòa có nhiều lần thay đổi tên gọi theo những biến đổi thăng trầm lịch sử: Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất phương Nam. Ông đặt miền đất mới Nam bộ thành phủ Gia Định, có hai huyện Tân Bình đặt dinh Phiên Trấn và Phước Long đặt dinh Trấn Biên, gồm các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu và một phần Bình Thuận hiện nay. Năm 1776, đổi dinh Trấn Biên thành Biên Trấn; năm 1788, đặt lại dinh Trấn Biên, sau đó đổi thành trấn Biên Hòa. Năm 1832, đổi trấn Biên Hòa thành tỉnh Biên Hòa. Năm 1837, tỉnh Biên Hòa đặt phủ Phước Tuy (Phước An cũ) và thêm hai huyện Long Khánh và Ngãi An. Năm 1838, đổi phủ Phước Tuy thành phủ Phước Long thêm huyện Phước Bình. Năm 1840, có 81 làng đồng bào dân tộc thiểu số quy phục. Năm 1851, bỏ ba huyện Phước Bình (chuyển về phủ Phước Long), Long Khánh (vào phủ Phước Tuy), Ngãi An (nhập vào huyện Bình An)[4].

Thời kỳ 1862-1945, thực dân Pháp đặt ách thống trị ở Biên Hòa. Năm 1862, triều đình Nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất cắt 03 tỉnh miền Đông Nam kỳ, trong đó có tỉnh Biên Hòa cho thực dân Pháp, tỉnh Biên Hòa trở thành thuộc địa của Pháp. Năm 1864, đô đốc Lagrandière chia 03 tỉnh miền Đông Nam kỳ thành 07 tiểu khu chỉ huy, riêng tỉnh Biên Hòa chia thành 02 tiểu khu là Biên Hòa và Bà Rịa. Năm 1865, Pháp chia 03 tỉnh miền Đông thành 13 sở tham biện, riêng ở tỉnh Biên Hòa có 05 sở tham biện gồm: Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Long Thành và Bảo Chánh. Năm 1866, tỉnh Biên Hòa được chia làm 06 địa hạt gồm: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Thủ Đức, Bình An và  Bảo Chánh. Năm 1867, tỉnh Biên Hòa có 05 sở tham biện gồm: Biên Hòa, Bà Rịa, Long Thành, Bình An, Nghĩa An. Năm 1887, sở tham biện  Bà Rịa tách ra thêm sở tham biện Vũng Tàu (còn gọi là Ô Cấp). Ngày 01/11/1899, Pháp lập sở tham biện Đồng Nai Thượng gồm nửa huyện Định Quán, cả huyện Tân Phú và tỉnh Lâm Đồng hiện nay, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1901, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, nhập vào tỉnh Bình Thuận và được lập lại năm 1920. Ngày 20/12/1899, Pháp ra nghị định đổi tên sở tham biện thành tỉnh, chức vụ Chánh tham biện thành Quan cai trị chủ tỉnh[5].

Thời kỳ 1945-1975, Nhân dân tỉnh Biên Hòa kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược. Vùng đất Nam Bộ nói chung và trên địa bàn tỉnh Biên Hòa nói riêng có hai tổ chức chính quyền song song tồn tại là Chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa (đến năm 1969, thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam để trực tiếp lãnh đạo cách mạng miền Nam) và chính quyền Việt Nam cộng hòa do các thế lực xâm lược lập nên. Các chính quyền này tổ chức ra các cấp đơn vị hành chính có thể giống hoặc khác nhau nhằm mục đích riêng.

- Chính quyền Việt Nam cộng hòa (còn gọi là Chính quyền Sài Gòn): Từ năm 1945-1954, địa bàn tỉnh Biên Hòa về cơ bản giữ nguyên tổ chức địa lý hành chính như thời kỳ trước năm 1945. Chính quyền “Nam Kỳ tự trị” (1946-1949), “Quốc gia Việt Nam” (1949-1954) đều không có sự thay đổi nhiều về tổ chức hành chính. Năm 1951, chính quyền Bảo Đại đổi tên quận Bà Rá thành quận Sông Bé và chuyển nhập về tỉnh Thủ Dầu Một. Năm 1953, quận Sông Bé lại chia thành hai quận Sông Bé và Bù Đốp, quận Sông Bé thuộc tỉnh Biên Hòa. Từ năm 1954-1975, tỉnh Biên Hòa chia thành 02 tỉnh mới là tỉnh Biên Hòa (gồm 04  quận: Châu Thành, Tân Uyên, Long Thành, Dĩ An) và tỉnh Long Khánh (gồm 02 quận: Xuân Lộc và Định Quán). Sau đó, chính quyền Việt Nam cộng hòa ban hành Nghị định số 131-BNV/HC/NĐ, ngày  24/4/1957 và 140-BNV/HC/NĐ, ngày 03/5/1957 về ấn định các đơn vị  hành chính tỉnh Long Khánh và Biên Hòa; Sắc lệnh số 25-SL, ngày 23/01/1959 về cắt một phần đất Tân Uyên thành lập tỉnh Phước Thành gồm 03 quận (Tân Uyên, Hiếu Liêm và Phú Giáo) và đến năm 1965 thì  giải thể tỉnh này. Năm 1972, tỉnh Biên Hòa chia thành 06 quận (Đức Tu, Công Thanh, Tân Uyên, Long Thành, Nhơn Trạch, Dĩ An). Năm 1967, tỉnh Long Khánh lập thêm quận Kiệm Tân (tách ra từ quận Xuân Lộc) và năm 1974, tách xã Gia Ray ra khỏi quận Xuân Lộc để thành lập thêm quận Bình Khánh. Ngày 06/9/1973, chính quyền Việt Nam cộng  hòa ban hành Nghị định quyết định sáp nhập các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa vào xã Phước Hải (quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy); sử dụng lực lượng Quân khu III và lực lượng hải quân Vùng III duyên hải để bảo vệ hai quần đảo này.

- Chính quyền Việt Nam Dân chủ cộng hòa (còn gọi là chính quyền Cách mạng): Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, địa bàn tỉnh Biên Hòa giữ nguyên tổ chức địa lý hành chính như trước năm 1945. Cuối năm 1947, tỉnh Biên Hòa lập quận Sông Bé. Ngày 25/3/1948, chính quyền Cách mạng ban hành Sắc lệnh số 148-SL bãi bỏ danh từ phủ, châu, tổng, quận thành cấp huyện; huyện Châu Thành tách thành 02 đơn vị hành chính là thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu. Năm 1951, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ ban hành Nghị định số 252/NĐ-51 về việc sáp nhập tỉnh Biên Hòa với tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Biên, có 10 đơn vị hành chính (gồm: thị xã Biên Hòa, thị xã Thủ Dầu Một và 08 huyện là: Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Thủ Đức, Đồng Nai[6], Châu Thành, Lái Thiêu, Bến Cát, Hớn Quản). Huyện Long Thành đưa về tỉnh Bà Chợ (Bà Rịa - Chợ Lớn). Tháng 5/1955, tỉnh Thủ Biên tách thành 02 tỉnh: Thủ Dầu Một và Biên Hòa (tồn tại đến tháng 9/1960). Từ tháng  10/1960-3/1963, lập tỉnh Long Khánh (tách từ một phần tỉnh Biên Hòa). Từ tháng 9/1960-7/1961, lập lại tỉnh Thủ Biên (do sáp nhập tỉnh Thủ Dầu Một và tỉnh Biên Hòa). Từ tháng 7/1961, tỉnh Thủ Biên tách thành 03 tỉnh: Biên Hòa, Thủ Dầu Một và Phước Thành. Từ tháng 3/1963-12/1963, nhập 03 tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa và Long Khánh thành tỉnh Bà Biên. Từ tháng 12/1963-12/1966, tách tỉnh Bà Biên thành các tỉnh: Biên Hòa và Bà Rịa - Long Khánh. Tháng 9/1965, tỉnh Biên Hòa tách thành 02 đơn vị: Biên Hòa U1 (thị xã Biên Hòa, huyện Vĩnh Cửu và đến năm 1967 có thêm huyện Trảng Bom) và Biên Hòa U3 (huyện Long Thành, Nhơn Trạch, khu vực Trảng Bom trước năm 1967). Từ tháng 10/1967-4/1971, địa bàn Đồng Nai có tỉnh Biên Hòa U1, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh, phân khu 4 (Long Thành, Nhơn Trạch, các sở cao su Bình Sơn, SIPH, một số xã thuộc đặc khu Rừng Sác và Nam Thủ Đức, quận 9 (Sài Gòn)). Từ tháng 5/1971-10/1972, Biên Hòa U1 nhập với phân khu 5 thành phân khu Thủ Biên (huyện Vĩnh Cửu và Trảng Bom hợp thành huyện Vĩnh Cửu); phân khu Bà Rịa - Long Khánh (03 thị xã: Bà Rịa, Long Khánh, Vũng Tàu và 08 huyện Xuân Lộc gồm cả huyện Định Quán, Long Thành gồm cả Nhơn Trạch, Cao Su, Thủ Đức, Duyên Hải, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc). Từ tháng 10/1972-10/1975, lập lại tỉnh Biên Hòa và tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Tháng 6/1973, tỉnh Biên Hòa tách thành 02 đơn vị là: thành phố Biên Hòa (còn gọi là Biên Hòa đô thị) và tỉnh Biên Hòa nông thôn (Long Thành, Nhơn Trạch, Cần Giờ, Thống Nhất, Tân Uyên, Vĩnh Cửu). Tháng 10/1973, lập thêm tỉnh căn cứ Tân Phú (04 huyện: Tân Uyên, Phú Giáo, Định Quán và Độc Lập). Năm 1974, tỉnh Tân Phú còn hai huyện Định Quán và Độc Lập (huyện Tân Uyên và Phú Giáo chuyển về thuộc tỉnh Thủ Dầu Một).

Thời kỳ 1975-2020, tháng 01/1976, tỉnh Đồng Nai được thành lập trên cơ sở sáp nhập các tỉnh Biên Hòa (nông thôn, thành phố), Bà Rịa - Long Khánh và Tân Phú gồm: 11 đơn vị hành chính (thành phố Biên Hòa, thị xã Vũng Tàu và 09 huyện: Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Tân Phú, Long Thành, Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc và Duyên Hải). Ngày 29/12/1978, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội (khóa VI) đã ban hành Nghị quyết chuyển huyện Duyên Hải tỉnh Đồng Nai về Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 30/5/1979, Kỳ họp thứ 5 Quốc hội (khóa VI) đã ban hành Nghị quyết về thành lập đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo. Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 193-HĐBT, ngày 9/12/1982 về thành lập huyện Trường Sa (gồm toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa tách ra từ huyện Long Đất). Ngày 28/12/1982, Kỳ họp thứ 4 Quốc hội (khóa VII) đã ban hành Nghị quyết về sáp nhập huyện Trường Sa (tỉnh Đồng Nai) vào tỉnh Phú Khánh. Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 284/HĐBT, ngày 23/12/1985 về thành lập thị xã Vĩnh An từ huyện Vĩnh Cửu; Quyết định số 107/HĐBT, ngày 10/4/1991 về chia huyện Xuân Lộc thành: 02 huyện  Long Khánh và Xuân Lộc, chia huyện Tân Phú thành: 02 huyện Định Quán và Tân Phú. Ngày 12/8/1991, Kỳ họp thứ 9 Quốc hội (khóa VIII) đã ban hành Nghị quyết cắt 03 huyện: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc của tỉnh Đồng Nai và Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 51/CP, ngày 23/6/1994 về chia huyện Long Thành thành 02 huyện Long Thành và Nhơn Trạch; Nghị định số 109/CP, ngày 29/8/1994 của Chính phủ về thành lập lại huyện Vĩnh Cửu từ thị xã Vĩnh An và Nghị định số 97/2003/NĐ-CP, ngày 21/8/2003 của Chính phủ về thành lập thị xã Long Khánh trên cơ sở của huyện Long Khánh, thành lập huyện Cẩm Mỹ trên cơ sở 07 xã thuộc huyện Long Khánh, 06 xã thuộc huyện Xuân Lộc; thành lập huyện Trảng Bom trên cơ sở chia tách từ  huyện Thống Nhất. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa XIV) đã ban hành Nghị quyết số 673/NQ-UBTVQH14, ngày 10/4/2019 về thành lập thành phố Long Khánh và Nghị quyết số 694/NQ-UBTVQH14, ngày 10/5/2019 về thành lập thị trấn Dầu Giây thuộc huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.

3. Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội

Về kinh tế:

Thời kỳ trước năm 1954, Biên Hòa là tỉnh lớn của chính quyền thuộc Pháp, đại đa số cư dân là nông dân. Theo Địa phương chí tỉnh Biên Hòa (1901), ở đầu thế kỷ XX, Biên Hòa có diện tích trồng lúa khoảng hơn 26.000 ha với sản lượng thấp “lượng gạo cung ứng trong tỉnh không đủ cho nhu cầu của dân cư”, ngoài ra, còn trồng khoai lang, khoai mì, thuốc lá, mía... và chăn nuôi nhỏ. Về cơ bản, nông nghiệp Biên Hòa vẫn là nền nông nghiệp cổ truyền với kỹ thuật canh tác thủ công, phụ thuộc vào thiên nhiên, mang tính chất sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc với cây lúa là cây trồng chính. Sở hữu đất đai theo hướng tập trung vào các nhà giàu và khá giả tuy tầng lớp trung nông chiếm tỷ lệ cao. Số nông dân nghèo đi làm mướn và ở đợ ngày càng tăng, họ sống nghèo khổ, lam lũ. Chính quyền thực dân chủ trương nhượng bán đất giá rẻ để những nhà tư bản Pháp phát triển đồn điền theo hướng chuyên canh nông sản hàng hóa nhiệt đới với qui mô từ vừa đến lớn. Đó là bước ngoặt mới của nông nghiệp Biên Hòa do tư bản nước ngoài tạo ra, bên cạnh nền nông nghiệp nhỏ bé của các chủ điền bản xứ, một số tư bản Pháp mở đồn điền trồng một số cây công nghiệp, đặc biệt với loại đất đen, đất đỏ basalt thích hợp cây cao su, các tư bản Pháp đã đầu tư mở rộng trồng và khai thác mủ cao su với nhân công là người Việt. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chủ yếu chỉ phát triển các nghề gốm, chế tác đá. Từ năm 1903, Pháp thành lập trường Bá Nghệ Biên Hòa, chủ yếu đào tạo nghệ nhân đúc đồng, gốm và mộc. Năm 1912, nhà máy cưa BIF chuyên khai thác và chế biến gỗ ở Biên Hòa được thành lập quy mô hơn 500 công nhân.

Thời kỳ 1954-1975, dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam cộng hòa, tỉnh Biên Hòa, Long Khánh có những bước phát triển theo hướng đô thị hóa, quân sự hóa,  nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tuy nhiên, do chiến tranh cùng chính sách dồn dân lập ấp chiến lược, ruộng đất bị tàn phá nên phát triển không đều. Cư dân nông nghiệp, nông thôn ở Biên Hòa, Long Khánh vẫn chiếm trên 85%. Từ năm 1959, chính quyền Việt Nam cộng hòa xây dựng nhà máy như: Eternit, thành lập công ty khuếch trương kỹ nghệ, xây dựng khu Kỹ nghệ Biên Hòa có 48/96 nhà máy, xí nghiệp đã đi vào hạt động (năm 1975). Diện tích trồng cao su từ năm 1954-1975, có phát triển một số chủ đồn điền người Hoa, người Việt, nhưng các công ty do người Pháp quản lý vẫn chiếm đa số. Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh ác liệt, một số đồn điền cao su trên quốc lộ 1, 20, liên tỉnh lộ 2 phải ngừng khai thác, diện tích và sản lượng không đáng kể, tăng giảm thất thường. Sản phẩm nông nghiệp không đủ cung ứng cho Nhân dân hai tỉnh Biên Hòa và Long Khánh,... Sau các đợt bình định, tình hình chiến sự lắng dịu, ít nhiều việc canh tân hóa nông nghiệp bắt đầu được thực hiện có hiệu quả. Trước năm 1972, lúa làm ra chưa đáp ứng 80% nhu cầu, đến năm 1973 đã đáp ứng được 96%.

Thời kỳ 1975-2020, tỉnh Đồng Nai thành lập, kinh tế phát triển theo 03 giai đoạn. Từ năm 1975-1985, là thời kỳ thực hiện cơ chế tập trung bao cấp trong kinh tế, chủ yếu là khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục phát triển nông nghiệp, tiến hành hợp tác hóa trong nông nghiệp. Từ năm 1986-1990, bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới, chuyển đổi quản lý nhà nước từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế của tỉnh bước đầu phát triển cả về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp. Từ năm 1990-2020, với chủ trương đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển kinh tế, tỉnh phát triển từ 01 khu công nghiệp lên 32 khu công nghiệp, giải quyết cho trên 1.200.000 lao động. Đồng Nai trở thành một tỉnh trong khu kinh tế trọng điểm phía Nam phát triển theo hướng công nghiệp và hiện đại.

Về văn hóa: Đồng Nai là một trong những trung tâm văn hóa cổ của Việt Nam. Qua khai quật khảo cổ đã minh chứng về sự hiện diện ở đây một truyền thống văn hóa từ thời tiền sử, sơ sử riêng biệt “văn hóa Đồng Nai”. Văn hóa cổ ở Đồng Nai những thế kỷ đầu công nguyên đã phát triển cùng với tiến trình phát triển của văn hóa Nam bộ, là hậu duệ của cư dân tiền sử và sơ sử. Đồng Nai còn có các di tích kiến trúc đền tháp đạo Hindu giáo phát triển để hình thành nền văn hóa bản địa. Vùng đất Đồng Nai vào cuối thế kỷ XVI, về cơ bản vẫn còn là một vùng đất hoang vu, chưa được khai phá, có các dân tộc: Stiêng, Mạ, K’ho, M’nông, Chơro sinh sống từ rất lâu đời. Trước năm 1698, vùng đất miền Đông Nam bộ, trong đó có Đồng Nai, trên danh nghĩa thuộc Chân Lạp, nhưng “thuộc” một cách lỏng lẻo, các dân tộc vẫn sống tự trị và một số sóc Khmer lẻ tẻ chưa hợp thành đơn vị hành chính, chưa có nhu cầu và nhân lực để khai hoang vùng trũng thấp đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất này, cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII là vùng đất hoang vu, đất tự do của các dân tộc, là đất hoang tàn cả về kinh tế lẫn chủ quyền. Trải qua quá trình khai phá, các cư dân bản địa, Việt, Hoa, Khmer,... đã cùng nhau cộng cư, hòa huyết, hỗn chủng, tạo ra một nền văn hóa phức hệ Đồng Nai. Đó là một nền văn hóa của sự giao thoa, kết tinh bởi nhiều thành phần, nhiều thành tố, phát triển theo dòng văn hóa chủ đạo của người Việt hợp lưu với văn hóa các dân tộc tại đây, hình thành nên nét đặc thù riêng của văn hóa Đồng Nai.   

Về dân cư: Đồng Nai là tỉnh đa dân tộc với 31 tộc người như: Kinh, Hoa, Chơro, Stiêng, Mạ, K’ho, Chăm, Khmer, Tày, Nùng,… trong đó, người Kinh chiếm 92,8%. Dân cư Biên Hòa - Đồng Nai phát triển theo cả hai hướng tự nhiên và cơ học, trong đó, tính từ năm 1698 đến nay  có các đợt nhập cư lớn, đó là: Cuộc di dân vùng Ngũ Quảng vào khẩn hoang từ thời kỳ các chúa Nguyễn, nhà Nguyễn; các đợt mộ phu cao su là dân các tỉnh miền Bắc và miền Trung của các công ty cao su trên đất Đồng Nai; đợt đồng bào các tỉnh miền Bắc di cư vào Nam sau hiệp định Genève năm 1954; đợt đón nhận đồng bào người Việt ở Campuchia về nước từ năm 1970; đợt tiếp nhận Nhân dân ở Biên Hòa, Sài Gòn đi xây dựng vùng kinh tế mới sau ngày 30/4/1975; cuộc vận động đưa dân các tỉnh phía Bắc đi xây dựng vùng kinh tế mới, làm công nhân ở các khu công nghiệp. Qua các đợt di dân làm cho dân số Đồng Nai tăng nhanh, dân số của tỉnh Biên Hòa năm 1955 là 246.750 người, đến năm 2022, tỉnh Đồng Nai có dân số 3.225.806 người, chiếm khoảng 3,2% dân số cả nước.

Về tôn giáo: Tính đến năm 2021, tỉnh Đồng Nai có 11 tôn giáo với 42 hệ phái, gồm: Công giáo, Phật giáo, Tin lành (27 hệ phái), Cao Đài (6 hệ phái), Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam và Giáo hội các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô; có khoảng hơn 2.289.000 tín đồ các tôn giáo, chiếm gần 70% dân số (trong đó, đông nhất là Công giáo với hơn 1,1 triệu tín đồ và Phật giáo là 950.000 tín đồ); có 9.501 chức sắc tu sĩ (bao gồm 1.529 chức sắc và 8.772 tu sĩ), 27.519 chức việc, 1.790 cơ sở thờ tự tôn giáo và trên 624 cơ sở tín ngưỡng. Ngoài 11 tôn giáo trên, Nhân dân Đồng Nai còn có tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên, tôn thờ những vị thần có công khai phá lập làng xã, có công với đất nước và được thờ ở các đình làng.

II. TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC TRƯỚC NĂM 1930

1. Truyền thống chống phong kiến áp bức trước năm 1858

Thế kỷ XVI - XVII, trên đất nước Việt Nam diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài, gây nên cảnh đói khổ khắp nơi. Để phục vụ cho chiến tranh, tập đoàn phong kiến chúa Nguyễn đã bóc lột, nhũng nhiễu, ức hiếp, cướp đoạt ruộng đất và tô tức nặng nề, đẩy dân chúng khổ sở, điêu đứng, phải rời bỏ làng mạc, ruộng vườn, xiêu tán đi nơi khác kiếm sống. Trong bối cảnh đó, vùng đất rộng lớn, màu mỡ, hoang vu Nam Bộ nói chung và Đồng Nai nói riêng đã thu hút mạnh mẽ lưu dân người Việt vào sinh sống với số lượng ngày càng tăng, quy mô lớn dần và thành phần đa dạng (gồm nông dân nghèo, người trốn tránh binh dịch, sưu thuế, tù nhân bị lưu đày, binh lính đào ngũ,...). Công cuộc di dân người Việt khẩn hoang vùng đất Đồng Nai được thực hiện một cách suôn sẻ, hòa bình.

Năm 1679, nhóm người Hoa chống đối Mãn Thanh ở Trung Quốc đã chạy qua Việt Nam, được chúa Nguyễn cho ẩn náu và sinh sống ở Nam Bộ. Ở Biên Hòa có nhóm Trần Thượng Xuyên đến từ tỉnh Quảng Đông, Phúc Kiến và đảo Hải Nam được phép định cư ở vùng Bàn Lân, Cù Lao Phố. Họ phân chia thành các bang đồng hương, sinh sống bằng nghề buôn bán, mở hàng quán, làm các nghề thủ công, chế biến chè, lò rèn, đục đá... góp phần hình thành thương cảng Cù Lao Phố hay Nông Nại Đại Phố với tư cách là trung tâm thương mại phát triển sầm uất. Sau khi Tây Sơn chiếm đóng châu Đại Phố năm 1776, số đông người Hoa chuyển về Bến Nghé, Gia Định, một số còn lại phân tán ra các địa phương khác, sau đó về lại Biên Hòa và một số thị trấn để buôn bán, làm nghề thủ công và đã trở thành một trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Năm 1698, chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (Nguyễn Hữu Kính) kinh lược xứ Đồng Nai lập huyện Phước Long, đặt dinh Trấn Biên, xây dựng hệ thống hành chính huyện, tổng, làng, xã, thôn ấp, mở đầu cuộc di dân có tổ chức từ vùng Ngũ Quảng vào vùng đất Biên Hòa. Lưu dân đã khẩn hoang, lập nên các làng ấp ở dọc bờ sông Đồng Nai và các vùng lân cận, hình thành tầng lớp địa chủ, điền chủ có của cải, quyền thế, bóc lột sức lao động của dân lưu vong, người nghèo khổ, cướp đoạt thành quả ruộng đất khai phá của nông dân, biến họ từ nông dân tự do thành tá điền, mâu thuẫn giữa địa chủ với nông dân ngày càng gay gắt. Cuộc chiến tranh kéo dài từ năm 1771-1785 giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, đất Gia Định nói chung, vùng Biên Hòa - Đồng Nai nói riêng là nơi diễn ra các trận đánh ác liệt, bị tàn phá nặng nề.

Từ năm 1802-1858, vùng đất Biên Hòa xây dựng trong thanh bình đạt nhiều thành tựu, để lại dấu ấn và âm hưởng hào khí Đồng Nai, góp phần hình thành bản sắc văn hóa Đồng Nai đậm nét. Bằng mồ hôi, công sức, đôi khi cả nước mắt và xương máu của các thế hệ lưu dân, trải qua hơn hai thế kỷ khai phá, bộ mặt kinh tế, xã hội, văn hóa của Đồng Nai đã thay đổi cơ bản. Vùng đất Đồng Nai từ chỗ là một vùng đất hoang vu đã sớm trở thành một vùng đất có sức thu hút mạnh đối với lưu dân khắp nơi.

2. Truyền thống chống thực dân, phong kiến từ năm 1858-1930

Ngày 01/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, chính thức xâm lược Việt Nam. Không chiếm được Đà Nẵng, ngày 16/02/1859, chúng chuyển hướng tấn công đánh chiếm thành Gia Định. Triều đình Nguyễn phái quân đến cứu viện, nhưng khi đến nơi thì thành Gia Định đã bị quân Pháp chiếm đóng, buộc phải rút quân về đóng tại thành Biên Hòa, đồng thời, củng cố lại các phòng tuyến phòng thủ ngoại vi. Thành Biên Hòa là địa điểm tập hợp số binh sĩ từ đại đồn Chí Hòa rút về, Triều đình đã cho bố trí trên bờ sông Đồng Nai súng thần công tại một số pháo đài nhỏ, dưới sông một số thuyền chứa chất cháy để chuẩn bị đánh hỏa công khi địch lọt vào trận địa. Cuối năm 1861, quân Pháp gửi tối hậu thư và hành quân theo sông Đồng Nai, dàn trận rồi nã đại bác vào thành Biên Hòa, quân triều đình đã chống cự quyết liệt, đẫm máu, nhưng trước tương quan lực lượng, vũ khí áp đảo của quân Pháp, buộc quân triều đình phải rút khỏi thành Biên Hòa, quân Pháp tiến vào chiếm thành, thu nhiều chiến lợi phẩm. Chiếm được Biên Hòa, quân Pháp tiến đánh Long Thành. Quân triều đình và nghĩa quân Long Thành đã chặn đánh, giao tranh quyết liệt với quân Pháp, nhưng bị tổn thất nặng nề, buộc phải rút quân. Ngày 05/6/1862, Nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất biến 03 tỉnh miền Đông Nam Kỳ,  trong đó có tỉnh Biên Hòa thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Nhà Nguyễn đã đầu hàng, nhưng Nhân dân Đông Nam Bộ nói chung và Biên Hòa nói riêng vẫn không khuất phục quân Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Trương Định đã đứng lên chống giặc Pháp quyết liệt. Nghĩa quân đã phối hợp với quân của Nguyễn Thành Ý, Phan Trung, Đỗ Trình Thụy tấn công đồn Thuận Tắc (Gò Công) và đánh chiếm đồn Đồng Môn (Long Thành), bắt sống tên tri huyện làm tay sai cho Pháp. Năm 1863, nghĩa quân ở Biên Hòa gồm cả người Việt và người dân tộc thiểu số liên tục tiến công, gây khó khăn và thiệt hại đáng kể cho quân Pháp. Năm 1864, Trương Định hy sinh ở căn cứ Tân Phước, con ông là Trương Quyền đã tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân kháng chiến. Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ Giao Loan, Bàu Cá (Trảng Bom) và nhiều lần tổ chức tiến công giặc Pháp ở Biên Hòa. Năm 1865, quân Pháp đánh chiếm căn cứ Giao Loan, Bàu Cá, nghĩa quân đã anh dũng chiến đấu, gây cho quân Pháp nhiều khó khăn và tổn thất. Tuy nhiên, trước những tổn thất lực lượng, Trương Quyền đưa nghĩa quân về Tây Ninh, cuộc kháng chiến ở Biên Hòa do các văn thân sĩ phu lãnh đạo tạm thời lắng xuống. Năm 1884, nhà Nguyễn lại ký với Pháp Hiệp ước Patenôtre, biến nước ta thành thuộc địa nửa phong kiến của Pháp, mở đầu cho thời kỳ khai thác, bóc lột thuộc địa của tư bản Pháp ở Việt Nam. Nhân dân Biên Hòa và miền Đông Nam bộ bước vào một giai đoạn đấu tranh giành độc lập trong điều kiện triều đình Huế đã trở thành vương triều bù nhìn.

Trong điều kiện đó, các tổ chức Hội kín đã ra đời và phát triển ở Biên Hòa, quy tụ nhiều danh tài hảo hán, tinh thông võ nghệ, coi việc nghĩa là việc đại sự, một lòng vì nước, vì dân. Lực lượng nghĩa quân phát triển ngày càng lớn mạnh, tích trữ lương thực, khí giới và tổ chức dấy binh, phục kích địch. Quân Pháp đã ập đến vây chặt căn cứ Bưng Kiệu, tấn công vào doanh trại của nghĩa quân và đốt phá kho lương thực. Nhiều nghĩa quân đã anh dũng hy sinh, số còn lại chạy thoát vào rừng. Một nhóm người yêu nước khác hoạt động bí mật đã lập ra căn cứ Trại Lâm Trung đóng ở xã Thiện Tân, được nhân dân Vĩnh Cửu, Tân Uyên ủng hộ, giúp đỡ. Đầu năm 1916, Trại Lâm Trung đề ra kế hoạch hoạt động với mục tiêu tiến đánh thành Săng Đá (thành Kèn Biên Hòa) và khám đường Biên Hòa. Tuy quân Pháp có bất ngờ, nhưng vì vũ khí của Trại Lâm Trung thô sơ, địch lại được tiếp viện nên việc không thành. Quân Pháp ở Biên Hòa đã tổ chức lùng sục vào các làng tìm bắt các lãnh tụ Trại Lâm Trung. Do có bọn tay sai chỉ điểm, các ông cầm đầu Trại Lâm Trung đã sa vào tay giặc Pháp, phong trào Hội kín ở Biên Hòa thất bại.

Phong trào đấu tranh của công nhân cao su, sau khi đặt ách thống trị lên đất nước ta, thực dân Pháp tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất. Từ năm 1906, tư bản Pháp bắt đầu trồng và lập các đồn điền cao su: Suzannah, Dầu Giây, An Lộc, Bình Lộc, Ông Quế, Long Thành, Túc Trưng, Hàng Gòn, Cẩm Mỹ... Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, các đồn điền cao su đẩy mạnh mở rộng diện tích, trở thành những công ty lớn chuyên trồng và khai thác mủ cao su như: Công ty cao su Đồng Nai, Công ty đồn điền Đất Đỏ, Công ty Cao su Đông DươngCông ty đồn điền Xuân Lộc... Khi mới thành lập, các đồn điền cao su chủ yếu  huy động Nhân dân các dân tộc tại chỗ khai phá đất đai, trả công rẻ mạt. Đến giai đoạn sau, sức lao động tại chỗ thiếu không đáp ứng được nhu cầu mở rộng diện tích nên phải mộ phu ở các tỉnh Bắc Bộ và Trung Bộ vào các đồn điền cao su.

Cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai cấp công nhân ở Đồng Nai hình thành và phát triển cả về số lượng và chất lượng. Năm 1930, công nhân cao su ở Biên Hòa tăng hơn 04 lần so với năm 1912. Sự bóc lột của người công nhân cao su càng tồi tệ thì lợi nhuận của bọn tư bản thực dân càng không ngừng tăng lên. Do vậy, mâu thuẫn giữa đội ngũ công nhân Biên Hòa và bọn chủ tư bản ngày càng gay gắt. Đội ngũ công nhân Biên Hòa tuy mới ra đời nhưng không ngừng đấu tranh cho quyền lợi giai cấp bằng nhiều hình thức từ thấp đến cao, đã liên tục tổ chức những cuộc đấu tranh nhỏ lẻ chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn chủ tư bản đòi quyền dân sinh, dân chủ. Nổi bật là tinh thần đấu tranh năm 1926 của công nhân cao su Cam Tiêm (Ông Quế) đã đồng loạt bãi công phản đối sự lừa gạt của bọn mộ phu; phản đối chủ sở không thực hiện những điều cam kết trong bản giao kèo. Bọn tư bản thực dân phải huy động lính đến đàn áp dã man để dập tắt cuộc bãi công. Năm 1927, công nhân đồn điền cao su Phú Riềng[7] nhiều lần nổi dậy đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế...

Phong trào Đông Du của Phan Bội Châu và phong trào Duy Tân của Phan Chu Trinh đã có tiếng vang và tác động nhất định đến tinh thần yêu nước của Nhân dân Biên Hòa, nhất là trong giới thanh niên, học sinh vào những năm 20 của thế kỷ XX. Năm 1927, kỳ bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Nam kỳ được thành lập. Năm 1928, thực hiện chủ trương “vô sản hóa”, nhiều hội viên của kỳ bộ đã đi vào làm phu, làm thợ ở các nhà máy, đồn điền... để tuyên truyền vận động và xây dựng tổ chức cách mạng, đồng thời, cũng để tự rèn luyện lập trường giai cấp công nhân. Tại Biên Hòa, một số đồng chí đã về hoạt động và xây dựng cơ sở cách mạng ở các đồn điền cao su Phú Riềng, đề pô xe lửa Dĩ An, nhà máy cưa BIF... trước sự phát triển của phong trào, chi bộ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đồn điền cao su Phú Riềng được thành lập gồm 05 hội viên, do Nguyễn Xuân Cừ làm Bí thư đã tổ chức, vận động đông đảo quần chúng lao động bước vào một thời kỳ đấu tranh mới, có sự lãnh đạo của tổ chức cách mạng. Phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh dấy lên ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là phong trào đấu tranh của công nhân ở các đồn điền cao su.

Ngày 28/10/1929, trên cơ sở tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, chi bộ Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở đồn điền cao su Phú Riềng gồm 06 đảng viên: Trần Tử Bình, Nguyễn Xuân Cừ, Nguyễn Mạnh Hồng, Tạ, Hòa, Doanh do Nguyễn Văn Cừ làm Bí thư. Các tổ chức bí mật của Đảng được chi bộ thành lập như: Xích vệ đội, Công hội đỏ… và những hội đoàn công khai để tập hợp giác ngộ cách mạng cho quần chúng công nhân. Chỉ trong vòng cuối năm 1929 đầu năm 1930, cơ sở cách mạng đã phát triển khá sâu rộng trong các đồn điền cao su ở Biên Hòa, Bà Rịa. Việc hình thành chi bộ Cộng sản Phú Riềng và các cơ sở cách mạng khác ở Biên Hòa đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong đấu tranh của phong trào công nhân cao su nói riêng và nhân dân Biên Hòa nói chung. Đặc biệt ở hai cơ sở công nghiệp lớn lúc bấy giờ là nhà máy cưa BIF ở nội ô thị xã Biên Hòa và đề pô xe lửa Dĩ An, cách thị xã Biên Hòa khoảng 4,0 km mạng lưới cơ sở đảng và phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân phát triển mạnh. Các đồng chí Châu Văn Liêm, Phạm Hữu Lầu, Nguyễn Trọng Nhã được Đảng bố trí vào làm công nhân ở các nơi này để xây dựng tổ chức cơ sở đảng, lãnh đạo công nhân đấu tranh. Tiêu biểu, năm 1929 rải hàng trăm tờ truyền đơn được đánh máy và in thạch, kêu gọi thợ thuyền và dân cày đoàn kết đứng dậy đấu tranh chống các chính sách bóc lột đàn áp của thực dân Pháp và bè lũ tay sai như bãi bỏ chế độ bắt xâu, đòi giảm thuế... Từ năm 1930, toàn bộ công nhân hãng cưa BIF và đề pô xe lửa Dĩ An tổ chức rải truyền đơn, treo cờ đỏ búa liềm, đồng loạt đình công với các yêu sách đòi ngày làm 08 tiếng, không được cúp phạt, đánh đập công nhân, không được bắt công nhân làm việc ngày chủ nhật. Cuộc đấu tranh tác động đến các tầng lớp nhân dân ở Biên Hòa, nhất là công nhân xe lửa, công nhân cao su và nông dân ở các xã ấp vùng ven thị xã Biên Hòa. Quần chúng ngày càng nhận thức rõ hơn là không thể cam chịu cuộc đời nô lệ của người dân mất nước mà phải vùng dậy đấu tranh. Phong trào cách mạng ở Biên Hòa được nhen nhóm và phát triển.

Có thể khẳng định rằng: Biên Hòa - Đồng Nai là vùng đất có nhiều tiềm năng về điều kiện tự nhiên và nhân văn; vùng đất được mệnh danh dòng chảy huyết mạch thành tên gọi của nền văn hóa, văn minh: Văn hóa Đồng Nai trải dài qua các thời đại đá cũ, đá mới, kim khí... Chính điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên phong phú, trên cơ tầng nền tảng văn hóa tiền sử, sơ sử, văn hóa Óc Eo, hậu Óc Eo và bản sắc văn  hóa đa tộc người, đa tôn giáo, vùng đất này chính là nơi hội nhập và giao lưu tiếp biến của nhiều nền văn hóa văn minh trong lịch sử. Biên Hòa - Đồng Nai có vị trí chiến lược quan trọng, là cửa ngõ phía Đông Bắc của Thành phố Hồ Chí Minh, là địa bàn chuyển tiếp giữa Cao Nguyên với đồng bằng Nam Bộ, kết nối các tỉnh miền Bắc, miền Trung với Nam Bộ, có lợi thế về nông nghiệp và công nghiệp. Chính vì vậy, nơi đây sớm hình thành các đồn điền cao su, khu chế xuất, khu công nghiệp và gắn liền với sự ra đời của giai cấp công nhân Đồng Nai và phong trào đấu tranh đòi quyền dân sinh dân chủ.

Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trước khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo, phong trào đấu tranh của nông dân và nghĩa quân ở Biên Hòa luôn diễn ra mạnh mẽ, tuy còn mang tính tự phát và hầu hết đều bị khủng bố dập tắt, nhưng đã thể hiện được tinh thần yêu nước, ý thức giai cấp, tình đoàn kết trong đấu tranh. Đội ngũ công nhân Biên Hòa ra đời cùng với chính sách khai thác thuộc địa của tư bản Pháp, ngày càng trưởng thành, là tiền đề cho phong trào yêu nước chống xâm lược của Nhân dân Biên Hòa. Từ khi có Đảng Cộng sản - chính Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh của nông dân, công nhân chính là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập, hình thành nên các tổ chức cộng sản ở Biên Hòa.

III. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BIÊN HÒA - ĐỒNG NAI (1930 - 2022)

1. Đảng bộ tỉnh Biên Hòa (1930 - 1945)

Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (sau đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương) đã lãnh đạo phong trào đấu tranh của Nhân dân chống thực dân Pháp và tay sai. Trên địa bàn tỉnh Biên Hòa, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, chi bộ Bình Phước - Tân Triều (chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở Biên Hòa xưa, Đồng Nai hiện nay) được thành lập tháng 02/1935 gồm 07 đảng viên, do đồng chí Bùi Thành Vĩ (tự Hoàng Minh Châu) làm Bí thư. Chi bộ ra đời đã kịp thời lãnh đạo phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng lao động, mở ra bước ngoặt lịch sử mới cho phong trào cách mạng ở tỉnh Biên Hòa. Từ những hạt giống đỏ của chi bộ, các đồng chí đảng viên tích cực hoạt động, tỏa đi khắp nơi để phát triển thêm đảng viên mới như: Phạm Văn Thuận, Huỳnh Dân Sanh, Huỳnh Văn Lũy ... xây dựng tổ chức cơ sở đảng mới ở quận Châu Thành, Long Thành, Tân Uyên và thị xã Biên Hòa, tạo tiền đề để phong trào cách mạng ở đây phát triển. Cuối năm 1936, Liên Tỉnh ủy miền Đông cử đồng chí Trương Văn Bang - Nguyên Bí thư Xứ ủy Nam kỳ về xây dựng tổ chức Đảng ở Biên Hòa. Tháng 02/1937, tại nhà ông Huỳnh Văn Ngọc (tức Năm Ông) làng Bình Ý (quận Châu Thành), Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa được thành lập do đồng chí Trương Văn Bang làm Bí thư, đồng chí Huỳnh Xuân Phan làm Phó Bí thư, các Tỉnh ủy viên gồm các đồng chí: Trần Văn Triết, Lê Văn Tôn, Huỳnh Văn Liễng, Nguyễn Hồng Kỳ. Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Biên Hòa được thành lập là sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng đối với Nhân dân, phong trào cách mạng tỉnh Biên Hòa. Điều đặc biệt là địa điểm tổ chức hội nghị thành lập Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa chính là nơi đã thành lập chi bộ Bình Phước - Tân Triều. Sự ra đời của Tỉnh ủy lâm thời đã tạo ra bước ngoặt mới đối với phong trào cách mạng, thể hiện sự phát triển nhanh chóng của tổ chức đảng và đảng viên ở tỉnh Biên Hòa, kịp thời lãnh đạo phong trào đòi tự do, dân sinh dân chủ, làm tiền đề cho cuộc vận động cách mạng ở giai đoạn sau.

  Sau khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, các tổ chức cơ sở Đảng trên địa bàn tỉnh Biên Hòa phải chuyển địa bàn hoạt động trước sự khủng bố trắng của thực dân Pháp và tay sai. Đầu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, các tổ chức cơ sở Đảng lần lượt được gầy dựng trở lại chuẩn bị lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám. Tháng 7/1945, tại chùa Tân Mai, đồng chí Hà Huy Giáp, đại diện Xứ ủy Nam Kỳ họp với các đồng chí: Hoàng Minh Châu, Huỳnh Văn Hớn, Phạm Văn Búng, Đặng Nguyên, Lê Nguyên Đạt... phổ biến chủ trương của Xứ ủy là gấp rút xây dựng, phát triển lực lượng cách mạng cả lực lượng chính trị và vũ trang, tích cực chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Trong không khí cách mạng tháng Tám năm 1945 trên cả nước, với hơn 40 đảng viên của tỉnh Biên Hòa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã khởi nghĩa thành công, giành chính quyền về tay Nhân dân, chấm dứt hơn 80 nô lệ thực dân Pháp, mở ra một kỷ nguyên mới độc lập, tự do đối với người dân Biên Hòa.

Có những thời điểm gặp muôn vàn khó khăn, thử thách, bị thực dân Pháp truy lùng gắt gao, tổn thất, phải hoạt động bí mật, nhưng Tỉnh ủy Biên Hòa vẫn quyết tâm bám trụ, vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng vào thực tiễn địa phương để lãnh đạo xuyên suốt phong trào cách mạng, quá trình xây dựng và chuẩn bị mọi mặt về cơ sở, tổ chức và lực lượng cách mạng, phát huy cao độ truyền thống vùng đất “Miền Đông gian lao mà anh dũng”, góp phần cùng cả nước giành nhiều thắng lợi.

2. Đảng bộ tỉnh Biên Hòa, Thủ Biên lãnh đạo kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954)

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi ở Biên Hòa thực sự là một cuộc đổi đời thực sự với nhân dân nơi đây. Tuy nhiên sau cách mạng, Tỉnh ủy chưa được khôi phục, số đảng viên cốt cán vẫn chủ động thành lập các tổ chức cách mạng và lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ cấp bách là củng cố hệ thống tổ chức đảng, lãnh đạo xây dựng hệ thống chính quyền nhân dân các cấp. Xứ ủy và Ủy ban Khởi nghĩa Nam Bộ chỉ định đồng chí Hoàng Minh Châu, người phụ trách Tỉnh ủy Biên Hòa kiêm nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Biên Hòa. Chính quyền nhân dân tỉnh Biên Hòa được thành lập do đồng chí Hoàng Minh Châu làm Chủ tịch, trực tiếp lãnh đạo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh xây dựng cuộc sống mới và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ.

Ngày 23/9/1945, tại Nhà hội Bình Trước, đồng chí Hà Huy Giáp thay mặt Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị cán bộ toàn tỉnh Biên Hòa. Hội nghị gồm 40 cán bộ là những đảng viên từng hoạt động ở Biên Hòa trước năm 1945, một số đồng chí từ nhà tù Côn Đảo, Sài Gòn được Xứ ủy Nam Bộ giới thiệu về. Hội nghị đã củng cố lại Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa gồm 11 đồng chí, do đồng chí Trần Công Khanh làm Bí thư, đồng chí Hoàng Minh Châu làm Phó Bí thư, đồng chí Phan Đình Công - Ủy viên Thường vụ; Tỉnh ủy viên gồm các đồng chí: Lê Nguyên Đạt, Huỳnh Văn Hớn, Hồ Văn Giàu, Đặng Nguyên, Lê Thái, Ngô Hà Thành, Phạm Văn Búng, Hồ Văn Đại. Việc khôi phục lại Tỉnh ủy lâm thời Biên Hòa có ý nghĩa quan trọng, đáp ứng tình thế cấp bách; kịp thời đánh giá tình hình; đề ra các nội dung lãnh đạo Nhân dân chuẩn bị tâm thế và tiềm lực mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài; lãnh đạo xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức đảng ở các địa phương.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), dưới sự lãnh đạo của Đảng, Tỉnh ủy Biên Hòa lãnh đạo toàn diện quân dân trên địa bàn tỉnh như xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng lực lượng vũ trang, các tổ chức cơ sở đảng ở thành thị, nông thôn, các đoàn thể chính trị. Để phù hợp với sắp xếp bố trí chiến trường, tỉnh Biên Hòa được tách, nhập để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng mới. Được sự lãnh đạo sâu sát, xuyên suốt, kịp thời của Tỉnh ủy Biên Hòa, quân dân tỉnh Biên Hòa lần lượt đánh bại thực dân Pháp tái xâm lược, làm nên các chiến thắng vang dội trên cả nước như chiến thắng La Ngà ngày 1/3/1948, tháp canh cầu Bà Kiên 19/3/1948… góp phần cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, chấm dứt vĩnh viễn sự xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta.

3. Đảng bộ tỉnh Biên Hòa, Long Khánh, Tân Phú lãnh đạo kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954 - 1975)

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), tỉnh Biên Hòa với địa chiến lược rất quan trọng ở miền Đông Nam Bộ đã được đế quốc Mỹ tăng cường xây dựng hạ tầng quân sự kiên cố, hiện đại như: sân bay Biên Hòa, Tổng kho Long Bình, kho bom Thành Tuy Hạ… Do đó, chiến sự diễn ra trên địa bàn tỉnh Biên Hòa ác liệt hơn so với nhiều địa phương khác. Để thích nghi với công tác bố trí chiến trường, tỉnh Biên Hòa trải qua nhiều lần tách, nhập đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng. Dưới sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh ủy Biên Hòa, công tác xây dựng căn cứ cách mạng được chú trọng như: căn cứ U1 (huyện Trảng Bom), U3 (huyện Long Thành), chiến khu Phước An (huyện Nhơn Trạch),… và công tác xây dựng Đảng, chính trị, địa phương, các đoàn thể luôn được Tỉnh ủy quan tâm, lãnh đạo, phát triển rộng khắp. Với sự tinh thần quyết chiến, quyết thắng, các lực lượng vũ trang cách mạng, Nhân dân và cấp trên đóng chân trên địa bàn tỉnh tổ chức đánh Mỹ, làm nên nhiều chiến thắng như: trận đánh Nhà Xanh (07/7/1959); trận tập kích sân bay Biên Hòa lần 1 (31/10/1964), lần 2 (12/5/1967), lần 3 (05/11/1967), lần 4 (10/9/1972), tấn công Tổng kho  Long Bình (từ năm 1966-1972), chiến dịch Xuân Lộc (09/4-21/4/1975),… Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, quân dân tỉnh Biên Hòa tích cực phối hợp các đơn vị chủ lực Miền nổi dậy, giải phóng các địa phương, đánh bại tuyến phòng thủ vòng ngoài của chính quyền Sài Gòn ở Xuân Lộc, đã mở ra cánh cửa hướng Đông và Đông Nam góp phần đưa đại quân ta tiến nhanh vào Sài Gòn. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng ngày 30/4/1975, đất nước hoàn toàn được thống nhất, non sông nối liền một dải.

4. Đảng bộ Đồng Nai lãnh đạo cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1985)

Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (1975-1985), Đảng bộ tỉnh Đồng Nai trải qua 04 kỳ đại hội. Trong từng nhiệm kỳ đại hội, Đảng bộ tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, không ngừng xây dựng khối đoàn kết trong nội bộ Đảng và Nhân dân, khơi dậy khát vọng độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc; lãnh đạo phát triển mọi mặt của tỉnh nhà.

Đảng bộ đã lãnh đạo tiếp quản gần như nguyên vẹn Khu kỹ nghệ Biên Hòa (khu công nghiệp lớn nhất miền Nam), thực hiện tốt Chỉ thị số 10/CT75 của Ban Thường vụ Trung ương Cục làm cơ sở khôi phục hoạt động khu công nghiệp, khôi phục sản xuất, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, Đồng Nai cũng là một trong số ít địa phương sớm triển khai thực hiện chủ trương kêu gọi đầu tư nước ngoài và là địa phương đầu tiên trong cả nước thành lập khu chế xuất.

5. Đảng bộ Đồng Nai lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển (1986 - 2022)

Từ năm 1986 đến 2020, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai đã qua 07 kỳ Đại hội Đảng bộ. Thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) của Đảng, Đảng bộ tỉnh đã tập trung lãnh đạo đổi mới tư duy mọi mặt, thực hiện thắng lợi các nghị quyết công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng Đảng, tổ chức chính trị - xã hội đạt nhiều thành tựu quan trọng.

- Về kinh tế, quy mô nền kinh tế GRDP của toàn tỉnh năm 2022 đạt 435 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành), xếp thứ 04 cả nước về quy mô (sau Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội và tỉnh Bình Dương); có 32 khu công nghiệp được Chính phủ phê duyệt, trong đó có 31 khu công nghiệp đi vào hoạt động, thu hút đầu tư từ 42 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia gồm 2.065 dự án của các doanh nghiệp trong và ngoài nước với tổng vốn đầu tư hơn 33 tỷ USD và hơn 58.256 tỷ đồng. Tỉnh đã huy động được nguồn lực to lớn của nhân dân góp phần hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; đến năm 2022, 100% xã đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 96 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 21 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

- Văn hóa, giáo dục, y tế tiếp tục phát triển đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, thụ hưởng tinh thần của nhân dân. Đời sống của Nhân dân không ngừng được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người đến năm 2022 đạt 133 triệu đồng/người/năm.

- An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

- Hệ thống chính trị, công tác xây dựng Đảng luôn được xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Đến năm 2022, toàn Đảng bộ có 714 tổ chức cơ sở đảng với trên 87 ngàn đảng viên, là những nòng cốt trong triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng ở cơ sở.

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng bộ tỉnh Đồng Nai tiếp tục kế thừa những kinh nghiệm quý báu của Tỉnh ủy qua các thời kỳ, lãnh đạo quân và dân Đồng Nai tin tưởng tuyệt đối vào các chủ trương, đường lối của Đảng, viết tiếp những trang sử vẻ vang, hào hùng trong kháng chiến; năng động, sáng tạo trong lao động, sản xuất, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, xây dựng Đồng Nai phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh; là trung tâm công nghiệp và dịch vụ hàng không, cảng nước sâu, cửa ngõ giao thương quốc tế; trở thành một trong những cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 

         


[1] Vùng đất Đồng Nai trải qua nhiều thời kỳ kiến tạo, thay đổi về địa chất địa tầng, xâm thực của nước biển dâng, sự phun trào của núi lửa. Lịch sử kiến tạo làm cho địa chất, địa hình Đồng Nai có những đặc điểm riêng.

[2] Cục thống kê tỉnh Đồng Nai (2023), Niêm Giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2022, Nxb Thống kê, tr.79.

[3] Lê Quý Đôn (Ngô Lập Chí dịch, 1959), Phủ biên tạp lục quyển IV, Truờng Đại học Tổng hợp Hà Nội, tờ 243a.

[4] Hội Khoa học lịch sử Đồng Nai (2013), Địa danh hành chính - văn hóa - lịch sử Đồng Nai, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 183, 184, 192.

[5] Hội Khoa học lịch sử Đồng Nai (2013), Địa danh hành chính - văn hóa - lịch sử Đồng Nai, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 9.

[6] Huyện Tân Uyên sáp nhập với huyện Hớn Quản thành lập huyện mới lấy tên là huyện Đồng Nai; cuối năm 1951, huyện Hớn Quản tách ra như cũ, huyện Đồng Nai mới còn lại các xã vùng trung tâm Chiến khu Đ như Tân Hòa, Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang, Lạc An, Cộng Hòa, Chánh Hưng, Dân Chủ.

[7] Phú Riềng nay thuộc huyện Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

[8] Năm 1991, tỉnh Đồng Nai được tách ra để thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

 

 

  • Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” bắt đầu diễn ra ngày 13/3/1954 - “Quyết định lịch sử” thay đổi vận mệnh dân tộc

    Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” bắt đầu diễn ra ngày 13/3/1954 - “Quyết định lịch sử” thay đổi vận mệnh dân tộc

  • Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam

    Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 là bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam

  • Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước

    Chiến thắng Buôn Ma Thuột ngày 10/3/1975, tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng cho Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước

  • Kỷ niệm 69 năm Thầy thuốc Việt Nam (27/02) - Phát huy truyền thống vẻ vang “Lương y như từ mẫu” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Kỷ niệm 69 năm Thầy thuốc Việt Nam (27/02) - Phát huy truyền thống vẻ vang “Lương y như từ mẫu” theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh

  • Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ kính yêu viết “thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” (14/3/1954-14/3/2024)

    Kỷ niệm 70 năm Bác Hồ kính yêu viết “thư gửi cán bộ và chiến sĩ ở mặt trận Điện Biên Phủ” (14/3/1954-14/3/2024)

  • Đang truy cập:   375
  • Hôm nay:   393
  • Tháng hiện tại:   199725
  • Tổng lượt truy cập:   1095219