“Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết …” (Văn bia Quốc Tử Giám, Hà Nội, TS. Thân Nhân Trung soạn năm 1484), tư tưởng này từ trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Xác định đội ngũ trí thức là nguồn lực quan trọng, trực tiếp tham gia trong quá trình thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Những năm qua, Đảng ta đã có nhiều chủ trương quan tâm chăm lo công tác xây dựng, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ trí thức, có thể kể đến như Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế". Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” ... Hiện nay, Nghị quyết số 27-NQ/TW sau 15 năm triển khai thực hiện đã được thay thế bằng Nghị quyết số 45-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về “tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”. Có thể nói, vấn đề phát triển con người, đặc biệt là nhận định vị trí của đội ngũ trí thức trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội là rất quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay là thời đại của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư, khi mà mối tương quan giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất còn ảnh hưởng rất lớn từ khoa học công nghệ, trí tuệ của con người…
Mới đây, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà ký Quyết định số 586/QĐ-TTg, ngày 03/7/2024 phê duyệt Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Với mục tiêu đến năm 2030, Đồng Nai trở thành tỉnh phát triển văn minh, hiện đại, tốc độ tăng trưởng cao, vượt qua ngưỡng thu nhập cao trong nhóm đầu của cả nước. Để đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu Quy hoạch tỉnh đề ra, tỉnh đang triển khai thực hiện đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, huy động tối đa nguồn lực trên mọi lĩnh vực, mà yếu tố then chốt trong thực hiện tốt và hoàn thành các mục tiêu đề ra vẫn là yếu tố con người.
Theo báo cáo công tác xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp của tỉnh từ đầu nhiệm kỳ 2020-2025 đến nay của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, tính đến tháng 6/2024, tổng số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách nhà nước toàn tỉnh là 46.630 người, trong đó, cán bộ, công chức 7.144 người, viên chức 35.663 người, lao động hợp đồng 68 và hợp đồng khác 3.823 người. Số làm việc trong cơ quan khối Đảng, đoàn thể 1.065 người; khối chính quyền 45.565 người. So với thời điểm ngày 01/01/2020 giảm 6.068 người (trong đó, cán bộ, công chức giảm 383 người, viên chức giảm 4.219 người, lao động hợp đồng 68 và hợp đồng khác giảm 1.270 người; cán bộ, công chức xã giảm 189 người). Trong đó:
+ Độ tuổi: Từ 30 trở xuống 6.564 người (tỷ lệ 14,08%), từ 31 đến 35 tuổi 6.557 người (tỷ lệ 14,06%), từ 36 đến 40 tuổi 12.119 người (tỷ lệ 25,99%), từ 41 tuổi đến 45 tuổi 7.556 người (tỷ lệ 16,21%), từ 46 đến 50 tuổi 6.707 người (tỷ lệ 14,38%), từ 51 đến 55 tuổi 5.018 người (tỷ lệ 10,76%), từ 56 đến 60 tuổi 2.087 người (tỷ lệ 4,48%), trên 60 tuổi 22 người (tỷ lệ 0,05%).
+ Nữ: 31.742 người (tỷ lệ 68,07%)
+ Dân tộc thiểu số: 1.088 người (tỷ lệ 2,33%)
+ Tôn giáo: 7.378 người (tỷ lệ 15,82%)
+ Trình độ chuyên môn: Tiến sĩ 75 người (tỷ lệ 0,16%, trong đó cấp tỉnh 69 người, cấp huyện 06 người, cấp xã: 00 người), thạc sĩ 2.608 người (tỷ lệ 5,59%), đại học 32.479 người (tỷ lệ 69,65%), cao đẳng 5.327 người (tỷ lệ 11,42%), dưới cao đẳng 6.141 người (tỷ lệ 13,17%).
+ Trình độ lý luận chính trị: Cử nhân, cao cấp 2.401 người (tỷ lệ 5,15%), trung cấp 9.703 người (tỷ lệ 20,81%), sơ cấp 7.577 người (16,25%).
+ Ngạch công chức, viên chức: Chuyên viên cao cấp và tương đương 20 người (tỷ lệ 0,05%), chuyên viên chính và tương đương 2.317 người (tỷ lệ 5,41%), chuyên viên và tương đương 32.065 người (tỷ lệ 74,91%), cán sự và tương đương 7.745 người (tỷ lệ 18,09%), nhân viên 660 người (tỷ lệ 1,54%).
Nếu xét theo cơ cấu, khối, ngành thì tổng số cán bộ lãnh đạo quản lý ở cấp tỉnh như sau:
- Ban Chấp hành: 50 người, trong đó: Nữ 11 người (tỷ lệ 22%), từ 40 tuổi trở xuống 0 người (tỷ lệ 0%), dân tộc thiểu số 0 người (tỷ lệ 0%), trình độ chuyên môn sau đại học 29 người (tỷ lệ 58%), trình độ lý luận chính trị cao cấp 50 người (tỷ lệ 100%).
- Ban Thường vụ: 15 người, trong đó: Nữ 01 người (tỷ lệ 6,67%), từ 40 tuổi trở xuống 00 người (tỷ lệ 0%), dân tộc thiểu số 00 người (tỷ lệ 0%), trình độ chuyên môn sau đại học 11 người (tỷ lệ 73,33%), trình độ lý luận chính trị cao cấp 15 người (tỷ lệ 100%).
- Lãnh đạo các cơ quan, đơn vị khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội tỉnh: 41 người, trong đó: Nữ 15 người (tỷ lệ 36,59%), từ 40 tuổi trở xuống 03 người (tỷ lệ 7,32%), dân tộc thiểu số 00 người (tỷ lệ 0%), trình độ chuyên môn sau đại học 23 người (tỷ lệ 56,1%), trình độ lý luận chính trị cao cấp 41 người (tỷ lệ 100%).
- Lãnh đạo các sở, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh: 86 người, trong đó: Nữ 21 người (tỷ lệ 24,42%), từ 40 tuổi trở xuống 00 người (tỷ lệ 0%), dân tộc thiểu số 01 người (tỷ lệ 1,16%) trình độ chuyên môn sau đại học 60 người (tỷ lệ 69,77%), trình độ lý luận chính trị cao cấp 81 người (tỷ lệ 100%).
- Lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cấp tỉnh: 31 người, trong đó: Nữ 06 người (tỷ lệ 19,35%), từ 40 tuổi trở xuống 00 người (tỷ lệ 0%), dân tộc thiểu số 00 người (tỷ lệ 0%), trình độ chuyên môn sau đại học 23 người (tỷ lệ 74,19%), trình độ lý luận chính trị cao cấp 31 người (tỷ lệ 100%).
- Lãnh đạo cấp phòng và tương đương trực thuộc cơ quan, đơn vị cấp tỉnh: 750 người, trong đó: Nữ 281 người (tỷ lệ 37,47%), từ 40 tuổi trở xuống 110 người (tỷ lệ 14,67%), dân tộc thiểu số 04 người (0,53%), trình độ chuyên môn sau đại học 340 người (tỷ lệ 58,66%), trình độ lý luận chính trị trung cấp trở lên 750 người (tỷ lệ 100%).
Nhìn chung đội ngũ cán bộ từ tỉnh đến cơ sở được xây dựng cơ bản đảm bảo về số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ đã nâng lên đáng kể, phục vụ tốt các yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị, địa phương và sự phát triển của tỉnh trong từng giai đoạn. Ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp được đề cao. Tập thể lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành, các đơn vị đã thể hiện tốt vai trò trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, giữ vững ổn định chính trị. Trong điều kiện hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch với âm mưu phá hoại bằng chiến lược “diễn biến hòa bình”, nhưng tuyệt đại đa số cán bộ vẫn giữ được bản lĩnh chính trị, trung thành với sự nghiệp đổi mới của Đảng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gắn bó với Nhân dân; nêu cao tinh thần phục vụ Nhân dân; đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện có kết quả nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương. Cán bộ đương chức thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý là cán bộ tiêu biểu về đạo đức, bản lĩnh chính trị, gương mẫu về mọi mặt, đã kinh qua nhiều vị trí quan trọng, được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đội ngũ cán bộ nguồn quy hoạch chức danh thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý là cán bộ có triển vọng phát triển tốt, được đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo tiêu chuẩn chức danh, qua thực tiễn đã phát huy tốt năng lực, sở trường, hầu hết đã kinh qua chức danh chủ chốt cấp huyện, đáp ứng yêu cầu khi cần kiện toàn, bổ sung nhân sự. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ các cấp hiện nay đang đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề suy thoái về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật và bị xử lý kỷ luật (Từ đầu nhiệm kỳ đến ngày 01/5/2024 cán bộ, công chức, viên chức bị kỷ luật hành chính 221 người, bị khởi tố, truy tố 16 người).
Để tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; gắn chặt chẽ xây dựng đội ngũ cán bộ với kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy. Thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm đối với những sai phạm. Trong thời gian tới, công tác cán bộ trong thời gian tới cần tập trung một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Lễ Bế giảng lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức dành cho cán bộ nguồn nhiệm kỳ 2025-2030
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
Thường xuyên quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Kiên quyết đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn, phản bác xử lý nghiêm, kịp thời hiệu quả những quan điểm lệch lạc, sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị.
Hai là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ
Tiếp tục hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh cán bộ và hệ thống tiêu chí đánh giá cụ thể đối với từng chức danh, từng đối tượng cán bộ kết hợp với thực hiện nhiệm vụ nêu gương của cán bộ, đảng viên. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, tạo nguồn cán bộ. Định kỳ rà soát, đánh giá công tác quy hoạch và chất lượng cán bộ trong diện quy hoạch, kịp thời bổ sung nguồn quy hoạch và đưa ra khỏi quy hoạch những cán bộ không còn đủ tiêu chuẩn, không phát huy được vai trò trách nhiệm, không hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Tăng cường luân chuyển để đào tạo cán bộ ở các ngành, các cấp trên địa bàn tỉnh, bố trí cân đối, hài hòa giữa luân chuyển cán bộ với việc phát triển nguồn cán bộ tại chỗ; tăng cường cán bộ cho địa bàn trọng điểm, lĩnh vực khó khăn, phức tạp. Đẩy mạnh phân cấp quản lý cán bộ, phát huy tốt vai trò của tập thể lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong quản lý cán bộ. Thường xuyên nắm bắt tình hình, dư luận trong Nhân dân, diễn biến tư tưởng của cán bộ, đáng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; chủ động phát hiện và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay.
Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi trường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ. Coi trọng trang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung nâng cao chất lượng bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
Rà soát, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ, sở trường, yêu cầu, nhiệm vụ, khung năng lực của từng vị trí việc làm; kiên quyết tinh giản đối với cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao, không đạt tiêu chuẩn quy định.
Hoàn thiện các quy định, chế độ, chính sách đặc thù của tỉnh đối với cán bộ phù hợp với điều kiện thực tế và sự phát triển của địa phương. Xây dựng cơ chế chính sách thu hút đội ngũ chuyên gia đầu ngành ở một số lĩnh vực đặc thù theo yêu cầu phát triển của tỉnh. Xây dựng chính sách hỗ trợ đối với cán bộ lãnh đạo, quản lỷ tự nguyện nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc theo nguyện vọng nhằm tạo điều kiện, cơ hội phát triển cho cán bộ trẻ.
Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng môi trường để cán bộ có điều kiện phát huy tốt khả năng, tài năng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Xây dựng hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu cán bộ các cấp.
Bốn là, tăng cường quản lý cán bộ, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ; đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền. Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu quả. Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp. Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu cầu.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng kết hợp giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng đối với công tác cán bộ. Thường xuyên kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm; xử lý kịp thời những sai sót, sai phạm trong công tác tổ chức cán bộ; kiên quyết thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ. Kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ, kịp thời thay thế những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khỏe, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Thực hiện nghiêm quy định về miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ và chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý sau khi bị kỷ luật.
Tăng cường quán triệt để cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về tác hại nghiêm trọng của tệ chạy chức, chạy quyền. Nhận diện rõ, đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.
Năm là, đầu tư, nâng cao chất lượng cơ quan và đội ngũ làm công tác cán bộ
Kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ. Nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cấp ủy, đơn vị trong việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ. Coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan tổ chức, cán bộ các cấp; tuyển chọn cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, có tư duy khoa học, tâm huyết, trung thực, có tinh thần trách nhiệm với công việc vào các cơ quan làm công tác tổ chức, cán bộ; đồng thời, kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ cán bộ những cá nhân không đáp ứng yêu cầu công việc hoặc có hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ.
Nâng chất lượng tham mưu của các cơ quan tham mưu trong công tác tổ chức cán bộ; thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại, đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên ngành bậc đại học và trên đại học cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ. Xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ cấp tỉnh về công tác ở các cấp uỷ trực thuộc hoặc sang công tác ở các cơ quan thuộc khối nhà nước và ngược lại để đào tạo, rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn cho cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ. Quan tâm đầu tư trang bị cơ sở vật chất, phương tiện làm việc hiện đại cho công tác tổ chức, cán bộ.
Ngọc Ánh