Lịch sử dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta phải luôn đối mặt với kẻ thù xâm lược có sức mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Để bảo vệ nền độc lập dân tộc, các bậc tiền nhân đã không ngừng phát huy ý chí tự lực, tự cường, mưu trí, dũng cảm để tiến hành khởi nghĩa, kháng chiến; cả nước đồng lòng, chung sức đánh giặc. Qua các cuộc khởi nghĩa và kháng chiến, dân tộc ta đã xuất hiện nhiều anh hùng hào kiệt, tướng lĩnh tài năng xuất chúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân tộc ta là con Rồng, cháu Tiên, có nhiều người tài giỏi đánh Bắc, dẹp Nam, yên dân, trị nước, tiếng để muôn đời”, trong số đó, có anh hùng dân tộc Trương Định (Trương Công Định).

Hình phục dựng Chân dung Trương Định được Nhân dân suy tôn “Bình Tây Đại nguyên soái” (Ảnh tư liệu)
Anh hùng dân tộc Trương Định - người con ưu tú của dân tộc Việt Nam sinh năm 1820, tại huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Khoảng năm 1844, ông theo cha vào Gia Định (Tiền Giang) lập nghiệp, khai hoang, lập đồn điền. Năm 1854, hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình nhà Nguyễn, Trương Định xuất tiền của chiêu mộ dân nghèo lập đồn điền Gia Thuận ở huyện Gò Công (Tiền Giang). Sau đó, Ông được phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ. Tháng 02/1859, khi quân Pháp tấn công thành Gia Định, Trương Định đứng lên dựng cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược và giành được nhiều thắng lợi vẻ vang, làm nức lòng quân dân và Ông được suy tôn là “Bình Tây Đại nguyên soái”. Cuộc khởi nghĩa Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất, là ngọn cờ đầu trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam kỳ và cả nước nửa sau thế kỷ XIX.
Năm 1861, thực dân Pháp chiếm thành Định Tường, Biên Hòa và đến tháng 3/1862, giặc Pháp tấn công chiếm thành Vĩnh Long. Triều đình ký hòa ước “Nhâm Tuất” vào ngày 05/6/1862 cắt 03 tỉnh miền Đông là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho thực dân Pháp. Trong bối cảnh đó, dưới ngọn cờ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” cuộc khởi nghĩa đã quy tụ nhiều tầng lớp tham gia diễn ra trên địa bàn rộng lớn ở khu vực Gia Định và khắp các tỉnh Nam kỳ gây cho thực dân Pháp tổn thất nặng nề, tạo được tiếng vang lớn, khiến quân thù khiếp sợ. Triều đình ra lệnh cho Trương Định bãi binh, phong làm Lãnh binh An Hà, buộc phải bãi binh ở Tân Hòa và gấp rút nhận chức mới ở An Giang. Nhưng lòng dân và nghĩa quân không chịu, trong lúc đang lưỡng lự giữa ý dân và lệnh vua chưa biết ngã về đâu thì Ông nhận được thư của nghĩa hào huyện Tân Long (Chợ Lớn), tỏ ý muốn cử Ông làm chủ soái 03 tỉnh để giết giặc. Cảm kích sự tín nhiệm của những người yêu nước và Nhân dân, Ông đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu "Bình Tây Đại Nguyên Soái" do Nhân dân suy tôn, tiếp tục cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.
Cuối năm 1863, giặc Pháp bất ngờ bao vây đánh úp và truy kích nghĩa quân, nên Ông cho rút toàn bộ lực lượng ra khỏi Gò Công và chọn Lý Nhơn, một vị trí nằm giữa vùng đất phù sa có rừng dừa nước che kín, giáp ranh tỉnh Biên Hòa (nay thuộc TP.Hồ Chí Minh) làm phòng tuyến mới nhưng lại bị giặc mở cuộc bao vây đánh úp căn cứ này. Thoát được cuộc bố ráp truy kích của giặc ở Lý Nhơn, Trương Định trở về “Đám lá tối trời” (nay là xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), một mặt Ông xây dựng lại lực lượng và kêu gọi các sĩ phu yêu nước hãy đứng lên góp công góp sức, hiến kế đánh giặc, đó là hịch tháng 8/1864. Hưởng ứng lời hiệu triệu của Ông khắp nơi một làn sóng kháng chiến lại nổi lên ở: Mỹ Tho, Tân An, Gò Công, Cần Giuộc, Chợ lớn và vùng giáp ranh Biên Hòa làm cho giặc Pháp hoang mang và càng ra sức truy tìm để diệt Ông. Sáng 20/8/1864, giặc Pháp bất ngờ bao vây đánh úp nghĩa quân, Trương Định sau khi chiến đấu oanh liệt cho đến khi bị trọng thương, Ông đã tuẫn tiết không để rơi vào tay giặc, bảo toàn khí tiết người anh hùng, năm ấy Ông tròn 44 tuổi. Cảm phục trước khí phách sáng ngời của vị Anh hùng dân tộc, Nhân dân Quảng Ngãi và Tiền Giang lập đền thờ và tổ chức lễ giỗ Ông vào ngày 20/8 hằng năm. Năm 1964, tại thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang, ngôi mộ và đền thờ Ông được tu bổ khang trang và giữ nguyên dáng dấp đến ngày nay. Ngoài mộ và đền thờ tại thành phố Gò Công, cảm phục trước tinh thần bất khuất của Trương Định, Nhân dân khu vực Gò Công lập đền thờ và tổ chức lễ giỗ Trương Định. Lễ giỗ này được duy trì thường xuyên tại xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, là nơi Trương Định tuẫn tiết và thành phố Gò Công là nơi xây dựng tượng đài và đền thờ Trương Định. Di tích mộ và đền thờ Trương Định ở thành phố Gò Công được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích cấp Quốc gia ngày 30/8/1987, còn đền thờ Trương Định ở xã Gia Thuận được công nhận là Di tích cấp Quốc gia năm 2004.
Ngày 20/8/2024, tỉnh Tiền Giang đã long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 160 năm Ngày Anh hùng dân tộc Trương Định tuẫn tiết (20/8/1864-20/8/2024) và đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Di tích lịch sử các địa điểm khởi nghĩa Trương Định.

Ngày 20/8/2024, tỉnh Tiền Giang đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Di tích lịch sử các địa điểm khởi nghĩa Trương Định.
Anh hùng dân tộc Trương Định là niềm tự hào của Nhân dân cả nước, trong cuộc đời đấu tranh kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Trương Định đã gây cho thực dân Pháp nhiều tổn thất nặng nề, tạo được nhiều tiếng vang lớn. Cuộc Khởi nghĩa Trương Định là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất và là ngọn cờ đầu trong phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp ở Nam kỳ và cả nước nửa sau thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa đã quy tụ nhiều tầng lớp tham gia, diễn ra trên địa bàn rộng lớn gồm nhiều tỉnh thành ở Nam bộ, hoạt động liên tục và mạnh mẽ, xây dựng căn cứ vững chắc với những chiến lược, chiến thuật quân sự tài ba mà ông cha đã truyền lại. Đặc biệt, Trương Định luôn tin tưởng và quý trọng Nhân dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc, phát huy sức mạnh lòng dân để xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc. Để ghi nhận công lao, tri ân anh hùng dân tộc Trương Định, ngày 16/8/2024, tỉnh Tiền Giang đã tổ chức Hội thảo khoa học "Dấu ấn lịch sử của khởi nghĩa Trương Định trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX".
Ngày 16/8/2024, tỉnh Tiền Giang tổ chức Hội thảo khoa học "Dấu ấn lịch sử của khởi nghĩa Trương Định trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX"
“Bình Tây Đại nguyên soái” Trương Định đã để lại những dấu ấn đậm nét trong phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp nửa sau thế kỷ XIX:
Thứ nhất, trong bối cảnh thực dân Pháp xâm lược Việt Nam sau năm 1858, cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nửa sau thế kỷ XIX và tạo được tiếng vang lớn. Mặc dù, trong bối cảnh không thuận lợi của Việt Nam lúc bấy giờ nhưng Trương Định vẫn giương cao ngọn cờ chống thực dân Pháp xâm lược; tất cả là vì quốc gia, dân tộc. Ông đã tập hợp và được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân - điều đó thể hiện tài năng và đức độ của Ông.
Thứ hai, cuộc Khởi nghĩa Trương Định có ảnh hưởng rộng lớn nhất lúc bấy giờ và có tác động lớn đối với phong trào yêu nước ở Nam kỳ. Sau khi Trương Định hy sinh, phong trào kháng chiến chống Pháp của Nhân dân Nam kỳ gặp nhiều khó khăn, nhưng không vì thế mà chấm dứt hoạt động. Một số thuộc tướng của Ông di chuyển đến Đồng Tháp Mười để lập căn cứ, mộ thêm binh sĩ, tích trữ lương thực, tiếp tục kháng chiến. Trong suốt 20 năm cuối của thế kỷ XIX, ở Nam kỳ vẫn liên tiếp diễn ra các cuộc khởi nghĩa chống Pháp ngày càng quyết liệt. Các cuộc khởi nghĩa đã ít nhiều chịu ảnh hưởng và tác động mạnh mẽ từ khởi nghĩa Trương Định.
Thứ ba, người dân quê hương ông và cả nước luôn bày tỏ niềm tiếc thương và sự kính trọng vô hạn - tấm gương kiên trung, bất khuất một đời chiến đấu vì nước, vì dân, sống oanh liệt, chết vẻ vang mà Ông và nghĩa sĩ của Ông đã để lại cho hậu thế. Bằng sự chỉ huy tài tình, với lý tưởng cao đẹp, những đức tính quý báu và hành động quả cảm đã làm rạng rỡ vùng đất Gò Công. Tinh thần Trương Định và cuộc khởi nghĩa do Ông lãnh đạo được Nhân dân ta phát huy trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và trong bảo vệ, xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ tư, tinh thần bất khuất và hào khí cuộc khởi nghĩa Trương Định mãi mãi là niềm tự hào của người dân Việt Nam trong và ngoài nước. Cuộc khởi nghĩa do Trương Định lãnh đạo là khởi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1858-1896 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc về quy tụ, cố kết nhân tâm, khơi dậy khát vọng độc lập, tự do, phát huy truyền thống của dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Từ bài học lịch sử của cuộc kháng chiến chống quân Pháp xâm lược với Khởi nghĩa Trương Định, Đảng ta đã giương cao ngọn cờ tập hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trong đó, chú trọng phát huy nội lực, kiên định quan hệ đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao uy tín, uy thế của Việt Nam trên trường quốc tế; phát triển mọi mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối nội và đối ngoại.
Có thể nói, tấm gương kiên trung, bất khuất, một đời chiến đấu vì nước, vì dân, sống oanh liệt, chết vẻ vang mà Ông và nghĩa sĩ của Ông đã để lại cho hậu thế. Bằng sự chỉ huy tài tình, với lý tưởng cao đẹp, những đức tính quý báu và hành động quả cảm đã làm rạng danh quê hương, đất nước ta. Phát huy truyền thống anh hùng, sau ngày thống nhất đất nước đến nay, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song với tinh thần đoàn kết, năng động, sáng tạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhân dân ta đã khôi phục, xây dựng, đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, triển khai có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết, nhất là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đạt được những kết quả rất quan trọng, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Lê Sơn
