Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) là người chiến sĩ cộng sản kiên trung mẫu mực, suốt đời vì nước, vì dân; một nhà lãnh đạo uy tín của Đảng và Nhân dân ta; người con ưu tú của dân tộc Việt Nam và quê hương Trà Vinh. Đồng chí đã có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng ta, của dân tộc ta và để các thế hệ hôm nay học tập, noi theo tấm gương tiêu biểu của đồng chí trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đồng chí Phạm Thái Bường (tên thường dùng là Ba Bường, bí danh Lê Thành Nhân) sinh năm Ất Mão (1915) tại làng An Trường, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh - vùng đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, trong một gia đình lao động nghèo, không có đất đai, thân sinh là cụ Phạm Văn Thới làm phu lục bộ và thân mẫu là cụ Phạm Thị Mai làm nghề “mua gánh bán bưng” ở chợ Càng Long để đổi lấy miếng cơm manh áo, nuôi sống gia đình [1]. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, nên thưở nhỏ Phạm Thái Bường không được cắp sách đến trường, tự bươn chải kiếm sống, nhưng với tư chất thông minh và nghị lực phi thường, Phạm Thái Bường đã thường lân la đến cửa trường làng “học lóm”, nhờ đó, Phạm Thái Bường có thể đọc thông, viết thạo và có kỹ năng ghi nhớ. Từ năm 15 tuổi, Phạm Thái Bường theo nghề phụ hồ, thợ hồ, tự lập nuôi thân và phụ gia đình nuôi em [2].
Kế thừa truyền thống cách mạng của quê hương, trải qua cảnh mưu sinh tủi nhục, tận mắt chứng kiến nỗi thống khổ của Nhân dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp, người thanh niên Phạm Thái Bường đã sớm thấu hiểu được nỗi khốn cùng, khổ nhục, bị áp bức, bất công của người dân mất nước nên Phạm Thái Bường đã quyết chí vượt lên số phận. Được đồng chí Nguyễn Văn Hai là người cùng quê (Phó Bí thư Chi bộ Mỹ Cẩm, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh) giác ngộ lý tưởng cách mạng cứu nước, Phạm Thái Bường tham gia vào các cuộc mít tinh, biểu tình, nghe diễn thuyết kêu đòi tự do, dân chủ, đòi cải thiện đời sống, chống áp bức bóc lột do những người Cộng sản ở Trà Vinh chủ trương tổ chức. Đầu năm 1938, Phạm Thái Bường tham gia vào Hội Ái hữu và hoạt động tích cực trong giới thợ thủ công ở địa phương nhằm đấu tranh bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân. Sau đó, Phạm Thái Bường được tổ chức phân công làm thành viên nòng cốt trong Hội Ái hữu những người thợ thủ công tỉnh lỵ Trà Vinh, tham gia nhiều cuộc đấu tranh của công nhân thợ cưa, nhà đèn, bến tàu,… giành thắng lợi. Từ những hoạt động năng nổ và hiệu quả trong phong trào Mặt trận Dân chủ, tháng 6/1938, thanh niên ưu tú Phạm Thái Bường được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Nguyễn Văn Hai - lúc này là Tỉnh ủy viên Trà Vinh giới thiệu, đây là bước ngoặt thay đổi cuộc đời người thanh niên thợ hồ Phạm Thái Bường. Đồng chí được vinh dự đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, thoát ly gia đình, dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng, không ngừng rèn luyện, phấn đấu trở thành người chiến sĩ cộng sản kiên trung mẫu mực, suốt đời vì nước, vì dân và từ đây có nhiều cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, góp phần quan trọng trong đấu tranh giải phóng quê hương, đất nước.
Trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc (1939-1945), đồng chí Phạm Thái Bường có nhiều đóng góp trong việc tuyên truyền, giác ngộ lý luận chính trị cho quần chúng, phát triển những quần chúng ưu tú vào hàng ngũ của Đảng, ra sức tập trung củng cố và xây dựng tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức quần chúng và cơ sở cách mạng.
Từ đầu năm 1939, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ, Đồng chí được cử vào Ủy viên Tỉnh ủy lâm thời Trà Vinh. Đồng chí đã cùng tập thể Tỉnh ủy tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa Nam kỳ, Đồng chí đã bí mật “hăng say hoạt động, tổ chức các Hội Ái hữu, tập hợp lực lượng, tuyên truyền giác ngộ hội viên, phát triển đảng viên, xây dựng cơ sở đảng. Cuối năm 1939, Đồng chí đã xây dựng được các chi bộ đảng trong trại cưa và các xã huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh” [3]. Đầu năm 1940, Đồng chí được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Đồng chí đã cùng các đồng chí trong Tỉnh ủy “bắt tay vào công tác chuẩn bị, chấn chỉnh, củng cố các huyện ủy, xây dựng các đội du kích, bí mật tạo vũ khí, tập võ nghệ, tổ chức treo cờ, rãi truyền đơn, tổ chức các cuộc mít tinh để tuyên truyền, giác ngộ quần chúng,… tạo khí thế chuẩn bị cách mạng sôi nổi” [4], sẵn sàng hưởng ứng cuộc khởi nghĩa.
Trong khi phong trào cách mạng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh phát triển mạnh mẽ thì tình hình cách mạng tỉnh Bến Tre (có cùng ranh giới con sông Cổ Chiên chung với tỉnh Trà Vinh) gặp nhiều khó khăn sau các cuộc khủng bố của thực dân, phần lớn cơ sở đảng ở đây bị đánh phá tan rã, Bí thư Tỉnh ủy cùng nhiều Tỉnh ủy viên, Huyện ủy viên bị thực dân Pháp truy bắt, sa vào lưới mật thám Pháp. Trước tình hình đó, tháng 6/1940, Xứ ủy Nam kỳ cử đồng chí Phạm Thái Bường giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre, chỉ trong thời ngắn Đồng chí đã “nhanh chóng bắt tay vào việc gầy dựng lại các chi bộ” [5], “phát triển phong trào quần chúng, củng cố lại các Quận ủy, Tỉnh ủy” [6], Đồng chí đã kiên quyết lãnh đạo quần chúng nổi dậy phối hợp với phong trào chung. Khi cuộc khởi nghĩa Nam kỳ nổ ra, dưới sự lãnh đạo của Bí thư Tỉnh ủy Phạm Thái Bường, Bến Tre đã hưởng ứng mạnh mẽ và quyết liệt, tiêu biểu là ở Mỏ Cày, “đội tự về cùng hàng trăm quần chúng phá sập hai cầu Cái Chát lớn và Cái Chát nhỏ, làm cho giao thông trên tỉnh lộ 6 bị gián đoạn, nhiều đoạn dây thép bị cắt đứt, truyền đơn, băng cờ được treo dán nhiều nơi” [7]. Ở khu vực huyện Châu Thành (nay thuộc huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre), “huy động hàng trăm quần chúng tổ chức mít tinh, sau biến thành cuộc biểu tình tuần hành kéo đến phá trụ sở tề xã Hiệp Qưới, Phong Mỹ,… Lực lượng khởi nghĩa còn đốn nhiều cây me lớn trên tỉnh lộ 26 làm trướng ngại ngăn chặn địch” [8]. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ ở Bến Tre bị thực dân Pháp “thẳng tay khủng bố, tàn sát dã man, dìm cách mạng và nhân dân trong biển máu. Chúng thẳng tay bắt bớ, tra tấn, bắn giết, hãm hiếp,… những người nổi dậy hoặc tình nghi… trên 400 tham gia khởi nghĩa, hầu hết các đồng chí trong Tỉnh ủy Bến Tre bị bắt ngày 25/11/1940, trong đó, có đồng chí Phạm Thái Bường. Sa bào tay giặc, bị mọi cực hình, tra tấn dã man, chết đi sống lại nhiều lần, đi đôi dụ dỗ mua chuộc, nhưng đồng chí vẫn giữ vững khí tiết” [9]. Sau đó, Đồng chí Phạm Thái Bường bị Tòa án của chính quyền thực dân Pháp kết án 10 năm tù, giam ở Khám Lớn Sài Gòn, rồi đày ra Côn Đảo.
Ở nhà tù Côn Đảo, Đồng chí bị bọn cai tù thực dân tra tấn dã man, nhưng Đồng chí vẫn kiên trung với Đảng ta, không khai báo một điều gì cho chúng. Đồng chí đã tìm cách bắt liên lạc với các đồng chí ngoài đảo và đã bắt được liên lạc với đồng chí Võ Sĩ, tổ chức được Ban cán sự Côn Đảo. Đồng chí được cử “tham gia cấp ủy nhà tù. Cùng với cấp ủy, đồng chí đã trực tiếp tổ chức và lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh trực diện với kẻ thù chống khủng bố, chống trả thù”[10].
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), đồng chí Phạm Thái Bường có nhiều cống hiến trong việc củng cố tổ chức cơ sở đảng, xây dựng chính quyền cách mạng và lãnh đạo kháng chiến thắng lợi.
Cách mạng tháng Tám thắng lợi, đồng chí Phạm Thái Bường được chính quyền cách mạng rước về đất liền. Về đến tỉnh nhà, Đồng chí được bổ sung vào Tỉnh ủy và được cử làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Vì tình hình cấp bách “dầu sôi lửa bỏng” nên Đồng chí đã lao ngay vào công việc dù sức khỏe còn yếu kém, xanh xao gầy yếu bởi những đòn tra tấn hung bạo của kẻ thù. Đồng chí cùng các đồng chí lãnh đạo của tỉnh khẩn trương kiện toàn cấp ủy; tập trung xây dựng chính quyền mới; củng cố Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở; chú trọng việc xây dựng và tăng cường sức chiến đấu của Ủy ban kháng chiến cùng lực lượng vũ trang các cấp, thành lập “Trinh thám đỏ” để bảo vệ cấp ủy đảng, xem đây là sức mạnh chủ yếu để đối phó với âm mưu xâm lược của kẻ thù.
Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, sau đó mở rộng chiến tranh ra toàn Nam Bộ, trong đó đánh chiếm Trà Vinh cuối năm 1945. Đồng chí Phạm Thái Bường cùng tập thể Tỉnh ủy lãnh đạo quân dân trong tỉnh chiến đấu kiên cường với giặc, đặc biệt là ở mặt trận Vàm Trà Vinh, Ô Chát, Bàng Đa, Phước Hưng, Ranh Hạt... Sau đó, thực hiện tiêu thổ kháng chiến khắp các vùng đô thị. Trong hoàn cảnh đó, Tỉnh ủy và chính quyền cánh mạng tỉnh Trà Vinh vẫn tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Từ tháng 10-1946, đồng chí Phạm Thái Bường đảm nhiệm Bí thư Tỉnh ủy. Trước tình hình khó khăn, phức tạp, thực dân Pháp đã tái chiếm Trà Vinh, thiết lập bộ máy chiến tranh từ tỉnh đến cơ sở, ráo riết thực hiện âm mưu kích động chia rẽ dân tộc, Đồng chí đã cùng Tỉnh ủy đề ra những chủ trương và đối sách thích hợp như: tăng cường củng cố khối đoàn kết dân tộc, tôn giáo [11]; thực hiện chính sách ruộng đất của cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, chiến đấu một cách có hiệu quả với địch... Do đó đã đưa phong trào kháng chiến toàn dân, toàn diện ở Trà Vinh sớm đi vào thế ổn định. Năm 1948, Đồng chí được bầu vào Khu ủy Khu Trung Nam bộ (Khu 8), được phân công phụ trách 03 tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre và Trà Vinh. Tháng 6/1949, Khu ủy Khu 8 chỉ định Đồng chí làm Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Tháng 10/1949, Đồng chí được bổ sung vào Ban Thường vụ Khu ủy Khu 8 và được phân công Trưởng ban Tổ chức cán bộ khu.
Từ năm 1951, thực hiện chủ trương của Trung ương Cục miền Nam, tỉnh Trà Vinh sáp nhập với Vĩnh Long thành tỉnh Vĩnh Trà, Đồng chí được chỉ định làm Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Trà và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam bộ phân công Đồng chí trực tiếp phụ trách hai tỉnh Vĩnh Trà, Bến Tre. Trên cương vị này, đồng chí Phạm Thái Bường đã cùng tập thể Tỉnh ủy lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trên địa bàn tỉnh giành thắng lợi.
Trong giai đoạn kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược (1954-1974), đồng chí Phạm Thái Bường tiếp tục có nhiều cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, góp phần bảo vệ thành quả cách mạng, giải phóng quê hương, đất nước.
Năm 1954, quân và dân ta giành chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954), buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève (1954) về chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở Đông Dương. Để ổn định tình hình các tỉnh phía Nam, đồng chí đã được Trung ương cử dẫn đầu một phái đoàn trực tiếp làm công tác tư tưởng, truyền đạt tinh thần Hiệp định Genève ở các tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh. Sau đó, Đồng chí được Trung ương cử ở lại miền Nam, cùng Nhân dân đấu tranh đòi địch thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đồng chí được Xứ ủy Nam bộ cử làm Xứ ủy viên, phụ trách công tác địa bàn miền Tây.
Từ năm 1958-1959, đồng chí trực tiếp làm Bí thư Liên Tỉnh ủy miền Tây. Tháng 9-1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí Phạm Thái Bường được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng. Năm 1961, Trung ương Cục miền Nam được tái lập, Đồng chí là Ủy viên Trung ương cục, phụ trách công tác Quân sự. Năm 1963, Trung ương Cục miền Nam điều đồng chí về chiến trường miền Tây làm Bí thư Khu ủy Khu 9, đồng chí đã cùng Khu ủy lãnh đạo Đảng, quân dân các tỉnh miền Tây phá tan “Ấp chiến lược” của Mỹ - Diệm, góp phần cùng cả nước làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ.

Từ trái sang: Đồng chí Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc), Phạm Văn Xô (Hai Xô), Phạm Thái Bường (Ba Bường), Võ Văn Kiệt (Sáu Dân) tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Ảnh tư liệu)
Năm 1965, Đồng chí được điều về Trung ương Cục miền Nam, tiếp tục phụ trách công tác Quân sự. Cuối năm 1967, trước yêu cầu chiến trường miền Tây cần có sự chuyển biến cơ bản cả thế lẫn lực chuẩn bị cho đòn quyết định, Trung ương Cục miền Nam lại cử Đồng chí về làm Bí thư Khu ủy Khu 9. Trên cương vị này, Đồng chí đã lãnh đạo Khu ủy, Quân khu cùng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tiến hành cuộc tổng công kích chiến lược Mậu Thân trên khắp các thị xã, thị trấn toàn miền Tây, góp phần cùng cả nước buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn Hội nghị Paris (năm 1973).
Sau xuân Mậu Thân năm 1968, đồng chí Phạm Thái Bường được rút về Trung ương Cục, bổ sung Ban thường vụ Trung ương cục, phụ trách công tác An ninh toàn miền Nam. Đồng chí giữ cương vị này trong 06 năm liền góp phần quan trọng vào việc kiện toàn hệ thống An ninh từ miền đến cơ sở, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu phá hoại của địch, đóng góp vào chiến thắng chung của dân tộc. Năm 1972, đồng chí là Ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Ngày 29/01/1974, sau một cơn bệnh nặng, đồng chí Phạm Thái Bường từ trần trong niềm tiếc thương vô hạn của Đảng, đồng bào, chiến sĩ Nam bộ. Đồng chí mất đi, Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam mất đi một cán bộ lãnh đạo kiệt xuất, mất đi một tài năng lớn, một nhân cách lớn như điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại lễ truy điệu ngày 06/02/1974 của đồng chí Lê Đức Thọ - Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc: “… Đồng chí Phạm Thái Bường không còn nữa, đó là một tổn thất lớn của Đảng ta, Nhân dân ta, đồng bào và chiến sĩ miền Nam yêu quý...”[12].
Trong suốt cuộc đời đấu tranh cách mạng gian khổ, trải qua nhiều cương vị: Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh, Vĩnh Trà, Bến Tre, Khu ủy Khu 9, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục phụ trách An ninh, đồng chí Phạm Thái Bường đã góp phần đóng góp quan trọng cho phong trào cách mạng ở quê hương Trà Vinh và trên các chiến trường Vĩnh Trà, Bến Tre, Vĩnh Long,... lập nên các chiến công chung của quân dân miền Tây Nam bộ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, như trong điếu văn Trung ương Đảng đã nêu rõ: “Đồng chí đã lăn lộn với phong trào miền Tây trong những thời kỳ gian khổ, khó khăn nhất, đã góp phần tích cực vào việc lãnh đạo đấu tranh chống địch, xây dựng cơ sở đưa tới phong trào đồng khởi và tiến lên giành những thắng lợi trong toàn miền Nam… Với những kinh nghiệm công tác cách mạng già dặn, Đồng chí đã lãnh đạo công tác An ninh ở miền Nam đạt nhiều thành tích. Trong suốt 18 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đồng chí đã góp phần mình trong sự lãnh đạo chung của Trung ương Cục miền Nam để đem lại những thắng lợi rất to lớn ở miền Nam”[13].
Với những cống hiến xuất sắc đó, đồng chí Phạm Thái Bường đã được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, trong đó, có “Huân chương Hồ Chí Minh; Huân chương Độc lập hạng nhất; Huân chương Quyết thắng hạng nhất; Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất...”[14].
Đối với Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Biên Hòa xưa (tỉnh Đồng Nai ngày nay), trong thời kỳ giữ vai trò là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Đảng Lao động Việt Nam (9/1960), Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, Trưởng ban Quân sự miền (1961-1963, 1965-1967): Trong bối cảnh Mỹ - Diệm ra sức đàn áp, khủng bố phong trào cách mạng miền Nam, thi hành luật 10/59, dồn dân lập “Ấp chiến lược”, “Trực thăng vận”, “Thiết xa vận”,… gây cho cách mạng miền Nam nói chung, tỉnh Biên Hòa nói riêng gặp nhiều khó khăn, tổn thất, nhiều cán bộ bị bắt, bị giết, đường vận chuyển bị địch kiểm tra, kiểm soát gắt gao,… trên cương vị của mình, đồng chí Phạm Thái Bường đã có nhiều chỉ đạo sáng suốt, kịp thời trong việc bảo vệ cán bộ, cơ sở cách mạng, xây dựng căn cứ trong quần chúng, cách giữ bí mật, tổ chức giao thông công khai và nửa công khai; đặt nền móng xây dựng và phát triển chiến tranh du kích, xây dựng 3 thứ quân, kế hoạch Đồng Khởi cho miền Nam. Đặc biệt, trước sự phát triển của phong trào cách mạng miền Nam, nhất là sự phát triển của lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đòi hỏi cấp bách phải chi viện vũ khí, phương tiện chiến tranh và các dụng cụ khác cho miền Nam, đồng chí Phạm Thái Bường đã liên lạc, móc nối với Bộ Quốc phòng, Hải quân, Trung ương Cục và các tàu đi trên biển (hoạt động trở lại tháng 7/1971), trực tiếp chỉ đạo việc vận chuyển vũ khí, phương tiện chiến tranh, nhu yếu phẩm để kịp thời chi viện cho các chiến trường miền Nam. Kết quả, từ năm 1961-1965, “đã có 142 chuyến tàu cập bến, chở được 6,346 tấn hàng”[15] cho một số chiến trường Nam bộ.

Các đồng chí Ủy viên Trung ương Cục miền Nam [Từ trái sang, hàng trước: Phan Văn Đáng (Hai Văn) - Phó Bí thư Trung ương Cục; Trương Chí Cương - Khu ủy Khu 5; Nguyễn Văn Linh - Bí thư Trung ương Cục; Trần Nam Trung - Thường vụ Trung ương Cục; Phạm Thái Bường (Ba Bường) - Ủy viên Trung ương Cục; Võ Chí Công - Phó Bí thư Trung ương Cục. Hàng sau: Võ Văn Kiệt, Trần Văn Quang và Phạm Văn Xô (Hai Xô) - Ủy viên Trung ương Cục] (Ảnh tư liệu)
Khi giữ vai trò là Ủy viên Ban thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Trưởng ban An ninh miền (1969-1974), Ủy viên chính thức Ban chấp hành Trung ương Đảng Đảng Lao động Việt Nam (1972): Trong bối cảnh sau cuộc tổng tấn công mùa Xuân Mậu Thân (1968), địch phản công quyết liệt, đóng đồn, gom dân vào “Ấp chiến lược” nhằm tách dân không cho cán bộ cách mạng bám theo, tăng cường ném bom, pháo với mật độ cao,… làm suy yếu sức mạnh của Đảng, gây cho cách mạng miền Nam nói chung, địa bàn tỉnh Đồng Nai ngày nay nói riêng nhiều khó khăn, tổn thất,… tương quan lực lượng bất lợi cho ta. Với vai trò Trưởng ban An ninh miền, đồng chí Phạm Thái Bường đã có nhiều cống hiến trong việc nghiên cứu, bàn bạc, tìm cách tháo gỡ khó khăn, chống càn quét, bom pháo, kể cả B52,… Đồng chí đã trực tiếp lãnh đạo nhiều trận đánh ngay trong lằng bom của địch. Dù bệnh tình cũ tái phát dưới làn “mưa bom, bão đạn”, Đồng chí vẫn cùng Khu ủy và Đảng bộ bàn bạc, tìm cách ngăn chặn đà sa sút, đưa phong trào cách mạng tiến lên. Đầu 1971, thực hiện chỉ đạo của Trung ương Cục, đồng chí đã cùng Ban An ninh nghiên cứu tình hình của ta và địch, vận dụng sáng tạo chủ trương chung của Đảng, phù hợp với thực tiễn cách mạng miền Nam trong việc đề ra chủ trương, kế hoạch và biện pháp nhằm bám cơ sở, bám dân, kiện toàn và xây dựng hệ thống An ninh từ miền đến cơ sở, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu phá hoại, bình định, lấn chiếm của địch nhằm ổn định tình hình,… “Về quan điểm: an ninh phải dựa vào dân, phải tinh thông nghiệp vụ,… phải dựa vào dân để đánh địch, bảo vệ ta,…; Về phương châm: luôn tấn công địch để bảo vệ ta, tấn công ngay vào đầu não địch; Về tổ chức: tăng cường lực lượng an ninh, điệp báo, an ninh đô thị, trinh sát vũ trang, trinh sát trị an, quản thúc tại nhà,…”[16]. Chính chủ trương kịp thời, hiệu quả của đồng chí Phạm Thái Bường đã đóng góp vào việc bảo vệ cơ quan đầu não, bảo vệ vùng căn cứ, bảo vệ an toàn Trung ương Cục miền Nam, Quân ủy miền, các cơ quan giúp việc,… góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của miền Nam, trong đó có Đồng Nai.
Kỷ niệm 50 năm Ngày mất đồng chí Phạm Thái Bường (29/01/1974-29/01/2024) - Người lãnh đạo tiền bối, tài năng, mẫu mực, có tầm nhìn chiến lược sắc sảo của một chiến sĩ cộng sản kiên cường, một cán bộ lãnh đạo lâu năm của Đảng là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn những công lao, đóng góp to lớn của đồng chí Phạm Thái Bường. Trong suốt 59 tuổi đời, hơn 36 năm hoạt động cách mạng, 35 tuổi Đảng, từ hoạt động bí mật đến công khai, từ khởi nghĩa Nam kỳ, kháng chiến chống thực dân Pháp, đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, lúc thuận lợi cũng như lúc gặp khó khăn, tù đày, việc gì, ở đâu Đồng chí cũng tỏ ra là một người cộng sản tận trung với nước, tận hiếu với dân, khó khăn không lùi bước, gian khổ không sờn lòng, có lối sống khiêm tốn, giản dị, nên được đảng tin cậy và Nhân dân cảm mến. Trong hoạt động cách mạng, Đồng chí luôn nêu cao tinh thần không ngại hy sinh, gian khổ, xông pha vào những nơi khó khăn nhất, linh hoạt, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ trong mọi tình huống, gắn liền cuộc đấu tranh đầy vẻ vang, hào hùng của Đảng ta, Nhân dân ta và quê hương. Với tác phong gần gũi quần chúng, đi sát cán bộ, với nếp sống giản dị, Đồng chí luôn được đồng bào, chiến sĩ và các đồng chí kính trọng, yêu mến... Đồng chí Phạm Thái Bường đã hoạt động cách mạng sôi nổi và luôn đứng nơi đầu sóng ngọn gió, dù trong lao tù đế quốc, trên những chiến trường ác liệt, trước những bước ngoặt của cách mạng hay trước những nhiệm vụ mới nặng nề, đầy khó khăn phức tạp… Đồng chí luôn tỏ rõ là người chiến sĩ cộng sản kiên cường, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Đồng chí đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng từ tuổi thanh xuân. Đồng chí là tấm gương cao đẹp của một người cộng sản chân chính, kiên trung về lòng tận tụy suốt đời tận trung với nước, tận hiếu với dân.
[1] Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) tr.1.
[2] Huyện ủy Càng Long (2020), Nhân vật lịch sử cách mạng huyện Càng Long (1930-2010), tập 1, tr.32.
[3], [4] Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) tr.2.
[5] Một số Chi bộ ở xã Bình Khánh, Thành Thới (huyện Mỏ Cày), Lương Quới (huyện Giồng Trôm) và Huyện ủy lâm thời Ba Tri.
[6] Huyện ủy Càng Long (2020), Nhân vật lịch sử cách mạng huyện Càng Long (1930-2010), tập 1, tr.33.
[7] Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) tr.2.
[8], [9] Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) tr.3.
[10] Huyện ủy Càng Long (2020), Nhân vật lịch sử cách mạng huyện Càng Long (1930-2010), tập 1, tr.34.
[11] Trà Vinh có rất đông đồng bào dân tộc Khmer và nhiều tôn giáo phức tạp.
[12], [13] Huyện ủy Càng Long (2020), Nhân vật lịch sử cách mạng huyện Càng Long (1930-2010), tập 1, tr.37.
[14] Huyện ủy Càng Long (2020), Nhân vật lịch sử cách mạng huyện Càng Long (1930-2010), tập 1, tr.37 và Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974) tr.9.
[15] Phòng nghiên cứu lịch sử truyền thống, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cửu Long, Tiểu sử tóm tắt của đồng chí Phạm Thái Bường (1915-1974), tr.13.
[16] Lưu Thị Bích Ngọc (2022), Vai trò của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam từ năm 1960 đến năm 1975, Luận án Tiến sĩ Sử học (Mã số: 9229013), Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội.
Lê Sơn