Văn bản của Đảng là loại hình tài liệu được thể hiện bằng ngôn ngữ viết để ghi lại hoạt động của các tổ chức đảng, do các cấp ủy, tổ chức, cơ quan có thẩm quyền của Đảng ban hành theo quy định của Điều lệ Đảng và của Trung ương. Hệ thống văn bản của Đảng gồm toàn bộ các loại văn bản của Đảng được sử dụng trong hoạt động của hệ thống tổ chức Đảng từ Trung ương đến cơ sở.
Theo Quy định số 66-QĐ/TW, ngày 6/2/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng (gọi tắt là Quy định số 66) và Hướng dẫn số 36-HD/VPTW, ngày 03/4/2018 của Văn phòng Trung ương Đảng về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản của Đảng (gọi tắt là Hướng dẫn số 36) thì việc ban hành văn bản đảng cần tuân thủ các yêu cầu: Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và phù hợp về thể loại và đúng về thể thức.
Quyết định số 66 quy định, mỗi văn bản chính thức của Đảng bắt buộc phải có đủ các thành phần thể thức sau đây: (1) Tiêu đề “ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”; (2) Tên cơ quan ban hành văn bản; (3) Số và ký hiệu văn bản; (4) Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản; (5); Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản; (6) Phần nội dung văn bản; (7) Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; (8) Dấu cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và (9) Nơi nhận văn bản.
Bài viết này tập trung phân tích các yếu tố: tiêu đề; tên cơ quan ban hành văn bản; quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền và nơi nhận văn bản[1].
1. Tiêu đề và tên cơ quan ban hành văn bản
Một là, tiêu đề:“ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM”.
Đây là thành phần đầu tiên của một văn bản đảng. Đối với văn bản khối Nhà nước, không chỉ có “tiêu đề” mà còn có “tiêu ngữ”. Tiêu ngữ của văn bản khối Nhà nước là “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”. Tiêu đề văn bản đảng cỡ chữ 15, chữ hoa, in đậm và có gạch chân toàn bộ.
Hai là, tên cơ quan ban hành văn bản.
Tên cơ quan ban hành văn bản có thể được trình bày một dòng hoặc 02 dòng. Các văn bản chỉ trình bày một dòng là văn bản của Trung ương (Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư); văn bản của tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương. Các văn bản trình bày 02 dòng gồm: văn bản của các cơ quan tham mưu, đơn vị sự nghiệp Trung ương; văn bản của các cơ quan tham mưu, đơn vị sự nghiệp thuộc cấp tỉnh và tất cả các văn bản đảng còn lại. Không có loại văn bản trình bày 03 dòng.
Đối với các văn bản trình bày 01 dòng, sử dụng kiểu chữ hoa, in đậm, cỡ chữ 14.
Ví dụ: Văn bản mà tên cơ quan ban hành văn bản trình bày 01 dòng:
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
*
Đối với các văn bản trình bày 02 dòng, sử dụng kiểu chữ hoa, dòng trên in nhạt, dòng dưới in đậm, đều dùng cỡ chữ 14.
Văn bản trình bày 02 dòng gồm: Văn bản của cấp ủy và văn bản của cơ quan tham mưu, đơn vị sự nghiệp của Đảng.
Đối với văn bản của cấp ủy, cụ thể là của Huyện ủy Định Quán thì:
ĐẢNG BỘ TỈNH ĐỒNG NAI
HUYỆN ỦY ĐỊNH QUÁN
*
Văn bản này trình bày 02 dòng, dòng trên là “đảng bộ”, dòng dưới là “huyện ủy”. Như vậy, đối với cơ quan ban hành văn bản là cấp ủy theo nguyên tắc trình bày dòng cơ quan chủ quản luôn là “đảng bộ”, dòng cơ quan ban hành văn bản luôn là “ủy”. Đó là nguyên tắc: Trên “bộ”, dưới “ủy”. Riêng văn bản của chi bộ cả 02 dòng đều là “bộ” và không có văn bản nào là văn bản của “chi ủy”. Ví dụ:
ĐẢNG BỘ PHƯỜNG TÂN MAI
CHI BỘ KHU PHỐ 6
*
Đối với văn bản của các cơ quan tham mưu, đơn vị sự nghiệp của Đảng, thì:
TỈNH ỦY ĐỒNG NAI
BAN TUYÊN GIÁO
*
Như vậy, khác với văn bản của cấp ủy, văn bản các cơ quan tham mưu và đơn vị sự nghiệp, dòng cơ quan chủ quản bao giờ cũng là chữ “ủy”.
2. Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền
Một là, văn bản của cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở.
Đối với văn bản của Ban Chấp hành Trung ương chỉ có một người có thẩm quyền ký đó là Tổng Bí thư. Đối với văn bản của Bộ Chính trị, các Ủy viên Bộ Chính trị nếu được phân công thì có thẩm quyền ký. Cũng vậy, đối với văn bản của Ban Bí thư, các ủy viên Ban Bí thư nếu được phân công thì đều có thẩm quyền ký.
Văn bản của tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương; văn bản của huyện ủy, quận ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và ban thường vụ huyện ủy, quận ủy, đảng ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy; văn bản của đảng ủy và ban thường vụ đảng ủy cơ sở; văn bản của đảng ủy bộ phận trực thuộc đảng ủy cơ sở những người có thẩm quyền ký thay mặt bao gồm bí thư hoặc phó bí thư.
Đây là quy định mới so với Hướng dẫn số 11 trước đây. Hướng dẫn số 11 quy định thay mặt đảng ủy chỉ có bí thư mới có thẩm quyền ký (trừ đảng ủy bộ phận cho phép phó bí thư ký). Theo Hướng dẫn số 36 này, cả bí thư và phó bí thư đều có thẩm quyền ký văn bản của ban chấp hành và ban thường vụ.
Ví dụ: 1: Văn bản của tỉnh ủy
T/M TỈNH ỦY
BÍ THƯ (hoặc PHÓ BÍ THƯ)
(chữ ký)
Họ và tên
Ví dụ 2: Văn bản của đảng ủy cơ sở
T/M ĐẢNG ỦY
BÍ THƯ (hoặc PHÓ BÍ THƯ)
(chữ ký)
Họ và tên
Riêng văn bản của chi bộ, thể thức đề ký là:
T/M CHI BỘ
BÍ THƯ (hoặc PHÓ BÍ THƯ)
(chữ ký)
Họ và tên
Như vậy, đối với văn bản của chi bộ không có thể thức đề ký là “T/M CHI ỦY”.
Hai là, đối với văn bản của các cơ quan tham mưu của Đảng.
Các cơ quan tham mưu của Đảng thực hiện chế độ thủ trưởng, trừ ủy ban kiểm tra của cấp ủy hoạt động theo chế độ tập thể. Vì vậy, đối với văn bản của ủy ban kiểm tra các cấp, thể thức đề ký là “T/M ỦY BAN KIỂM TRA”. Các ban đảng còn lại và văn phòng cấp ủy, nếu cấp trưởng ký thì theo thể thức “TRƯỞNG BAN” hoặc “CHÁNH VĂN PHÒNG”; nếu cấp phó ký thay thì đề ký là “K/T TRƯỞNG BAN” hoặc “K/T CHÁNH VĂN PHÒNG”; đối với các cơ quan tham mưu chưa bổ nhiệm cấp trưởng, không có thể thức “K/T” mà đề ký trực tiếp là “PHÓ TRƯỞNG BAN”.
Đối với thể thức đề ký thừa lệnh, nếu chánh văn phòng ký thừa lệnh thì đề ký là “CHÁNH VĂN PHÒNG”, nếu phó chánh văn phòng ký thì đề ký là “PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG” mà không ký thay nữa.
Ví dụ:
|
T/L BAN THƯỜNG VỤ CHÁNH VĂN PHÒNG (chữ ký) Họ và tên |
|
T/L BAN THƯỜNG VỤ PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG (chữ ký) Họ và tên |
|
T/L TRƯỞNG BAN CHÁNH VĂN PHÒNG (chữ ký) Họ và tên |
|
T/L TRƯỞNG BAN PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG (chữ ký) Họ và tên |
3. Nơi nhận văn bản
Nơi nhận văn bản trình bày góc phải, dưới nội dung văn bản. Từ "Nơi nhận" trình bày một dòng riêng, phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản trình bày dưới từ "Nơi nhận".
Đối với tên loại công văn, trình bày từ "Kính gửi" và tên cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp nhận giải quyết công việc cùng dòng với từ "Kính gửi" ở chính giữa, trang đầu văn bản. Ở dòng đầu phần nơi nhận cuối văn bản có thêm từ "Như trên".
Đối với công văn, trình bày từ “Kính gửi” ở giữa văn bản, nếu một nơi nhận thì cũng bắt đầu từ dòng kính gửi. Từ 02 nơi nhận trở lên, tên các cơ quan, đơn vị nơi nhận cũng bắt đầu từ dòng “Kính gửi”.
Ví dụ 1: Đối với công văn khối Đảng 01 nơi nhận
Kính gửi: Ban Tuyên giáo Thành ủy Biên Hòa.
Ví dụ 2: Đối với công văn khối Đảng từ 02 nơi nhận trở lên
Kính gửi: - Ban Tuyên giáo Thành ủy Biên Hòa,
- Phòng Nội vụ huyện Thống Nhất.
Khác với công văn khối Nhà nước, nếu nơi nhận là 01 dòng thì bắt đầu từ dòng “kính gửi”; nếu nơi nhận từ 02 dòng trở lên thì xuống dòng…
Đối với tên loại tờ trình, trình bày thêm từ "Kính gửi" và tên cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp nhận giải quyết công việc cùng dòng với từ "Kính gửi" dưới tên loại và trích yếu nội dung văn bản. Ở dòng đầu phần nơi nhận cuối văn bản có thêm từ "Như trên".
Thể thức văn bản, trong đó, có văn bản đảng là nghi thức Nhà nước, vì vậy, phải được trình bày đúng với thể thức quy định. Một văn bản được soạn thảo đúng nội dung, thẩm quyền và trình bày đúng thể thức không chỉ quyết định giá trị của văn bản mà còn góp phần quan trọng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng.
Vũ Trung Kiên
[1]Cỡ chữ ở từng mục trong một văn bản đảng phải theo đúng quy định. Các ví dụ trong bài viết này vì lệ thuộc vào cỡ chữ trình bày chung của ấn phẩm nên không thể đúng cỡ chữ như quy định.