Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng (03/02/1930-03/02/2026) là dịp ôn lại những quyết sách của Đảng qua các kỳ Đại hội, qua đó tiếp tục vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 là một bước ngoặt lịch sử vĩ đại, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trải qua 96 năm, Đảng ta đã tiến hành 14 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc. Mỗi kỳ Đại hội là một dấu mốc lịch sử đánh dấu sự trưởng thành và phát triển mạnh mẽ của Đảng với những quyết sách lịch sử trọng đại, mang ý nghĩa và tầm vóc thời đại sâu sắc, luôn gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Từ Đại hội XIV, đất nước ta chính thức bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày 06/01-07/02/1930 (Tranh vẽ của họa sĩ Phi Hoanh, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam)
Đảng Cộng sản Việt Nam “gánh vác” trọng trách
Đảng ra đời trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Nhân dân ta chịu cảnh lầm than, nô lệ. Các phong trào yêu nước diễn ra sôi nổi nhưng đều thất bại, Việt Nam đang khủng hoảng về đường lối cứu nước và tổ chức lãnh đạo thống nhất. Trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản. Người đã truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin về nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của chính Đảng vô sản ở Việt Nam. Từ ngày 06/01-07/02/1930, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành một chính Đảng duy nhất, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Cương lĩnh xác định nhiệm vụ chiến lược là đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc. Hội nghị mang tầm vóc, ý nghĩa của một Đại hội thành lập Đảng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của cách mạng Việt Nam, là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên, có tính chất quyết định vận mệnh dân tộc, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lới khác, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Có thể khẳng định: Sự ra đời của Đảng gắn liền với công lao và vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Người đã sáng lập, lãnh đạo, xây dựng và rèn luyện Đảng ta, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Tháng 10/1930, Đảng quyết định đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương, bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng.
Từ khi Đảng ra đời đến nay, địa điểm tổ chức 14 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc gồm lần I tại Ma Cao (Trung Quốc), lần II tại Tuyên Quang và còn lại 12 kỳ Đại hội tiếp theo đều tại Thủ đô Hà Nội. Mỗi kỳ Đại hội là những dấu mốc lịch sử trọng đại, thông qua các văn kiện quan trọng như: Cương lĩnh, chiến lược phát triển, Nghị quyết… đều là dấu mốc quan trọng, để lại dấu ấn riêng, quyết định vận mệnh dân tộc, tạo bước ngoặt đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi thử thách và vươn lên mạnh mẽ, từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến đổi mới và hội nhập quốc tế đều đạt nhiều thành tựu to lớn.
Những quyết sách trọng đại của Đảng qua 14 kỳ Đại hội
Đại hội I của Đảng (3/1935) - Đại hội củng cố, khôi phục, phát triển tổ chức Đảng. Đại hội có 13 đại biểu tham dự, đại diện cho các Đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng ở nước ngoài. Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng cùng các Nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính; thành lập Mặt trận phản đế, đội tự vệ, công tác dân tộc và Điều lệ Đảng. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 13 ủy viên do đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư. Đại hội khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, đánh dấu sự phục hồi của tổ chức Đảng, đặt nền móng cho mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

Dấu ấn quan trọng trong kỳ Đại hội I là việc quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lãnh đạo Nhân dân ta Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; khắc phục mọi khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, từng bước giải quyết “giặc đói”, “giặc dốt”, trống rỗng về tài chính, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, xây dựng Hiến pháp đầu tiên năm 1946; chống thù trong giặc ngoài và kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đại hội II của Đảng (02/1951) - Đại hội kháng chiến và kiến quốc thắng lợi. Đại hội có có 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết tham dự, đại diện cho hơn 766.000 đảng viên trong cả nước. Đại hội đã quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam; thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng; bầu BCH Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết; bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng và đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư. Đại hội đề ra đường lối kháng chiến chống Pháp và được xem là Đại hội kháng chiến thắng lợi, lãnh đạo Nhân dân ta lập nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Genève năm 1954; tiếp đến là chủ trương sửa đổi Hiến pháp và Nghị quyết 15 năm 1959 kịp thời mở đường cho đấu tranh ở miền Nam bước sang giai đoạn mới.
Đại hội III của Đảng (9/1960) - Đại hội thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược (xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước). Đại hội có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết tham dự, đại diện cho hơn 500.000 đảng viên cả nước và 20 đoàn đại biểu các đảng và tổ chức công nhân quốc tế tham dự. Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà; thông qua Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và Điều lệ Đảng sửa đổi. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục làm Chủ tịch Đảng, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất BCH Trung ương, lãnh đạo Nhân dân kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai thắng lợi, giành đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước.

Đoàn Chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 05/9/1960 (Ảnh tư liệu)
Đại hội IV của Đảng (12/1976) - Đại hội thống nhất đất nước về mặt Nhà nước, hàn gắn vết thương chiến tranh, đưa cả nước đi lên CNXH và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội có 1.008 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 1,55 triệu đảng viên của 38 Đảng bộ tỉnh, thành phố và cơ quan trực thuộc Trung ương trong cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; thông qua Điều lệ mới; bầu BCH Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết; bầu đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư. Đây được xem là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc, tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến, thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường XHCN. Đại hội đề ra nhiệm vụ xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước; trong nhiệm kỳ Đại hội, Đảng chủ trương sửa đổi Hiến pháp 1980.
Đại hội V của Đảng (3/1982) - Đại hội xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Đại hội có 1.033 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 1,7 triệu đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Đại hội đã khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của Đại hội lần thứ IV, vạch ra chiến lược kinh tế xã hội và những chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp trong từng chặng đường; thông qua Điều lệ sửa đổi của Đảng và bầu ra BCH Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết, bầu đồng chí Lê Duẩn tiếp tục làm Tổng Bí thư.
Đại hội VI của Đảng (12/1986) - Đại hội khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới. Đại hội có 1.129 đại biểu tham dự, đại diện cho gần 1,9 triệu đảng viên. Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học; bầu BCH Trung ương gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết; bầu đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư. Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra thời kỳ phát triển mới về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng.
Đại hội VII của Đảng (6/1991) - Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đại hội có 1.176 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 2 triệu đảng viên. Đại hội đã đề ra chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng; Điều lệ Đảng (sửa đổi) và bổ sung “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”; bầu ra BCH Trung ương gồm 146 uỷ viên, bầu đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư. Đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Đây được xem là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết” và năm 1992, chủ trương sửa đổi Hiến pháp.
Đại hội VIII của Đảng (6/1996) - Đại hội tiếp tục đường lối đổi mới, chuyển đất nước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH). Đại hội có 1.198 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 2 triệu đảng viên. Đại hội thông qua Điều lệ Đảng sửa đổi; bầu BCH Trung ương gồm 170 ủy viên chính thức. BCH Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên; bầu đồng chí Đỗ Mười tiếp tục làm Tổng Bí thư. Đến giữa nhiệm kỳ đồng chí Lê Khả Phiêu được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới, đẩy mạnh xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng XHCN vì hạnh phúc của Nhân dân ta, vì tình hữu nghị và sự hợp tác với Nhân dân các nước trên thế giới. Đại hội có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc và tương lai của đất nước, chuẩn bị tiềm lực bước vào thế kỷ XXI.
Đại hội IX của Đảng (4/2001) - Đại hội phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, đẩy mạnh CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đại hội có 1.168 đại biểu tham dự, đại diện cho gần 2,5 triệu đảng viên trong toàn Đảng. Đại hội đã bầu BCH Trung ương gồm 150 ủy viên. BCH Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 15 ủy viên, bầu đồng chí Nông Đức Mạnh làm Tổng Bí thư. Với phương châm “trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”, Đại hội mở đầu cho thế kỷ XXI của dân tộc, xác định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2010, hội nhập sâu hơn vào khu vực.
Đại hội X của Đảng (4/2006) - Đại hội nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, chủ động hội nhập quốc tế. Đại hội có 1.176 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 3,1 triệu đảng viên cả nước. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. BCH Trung ương họp bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên; bầu đồng chí Nông Đức Mạnh tiếp tục làm Tổng Bí thư. Đại hội đã tổng kết 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986-2006), tiếp tục khẳng định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường xây dựng Đảng, chỉnh đốn hệ thống chính trị; đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng và gia nhập WTO.
Đại hội XI của Đảng (01/2011) - Đại hội tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đại hội có 1.377 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 3,6 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã nhất trí thông qua các văn kiện rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, lâu dài đối với sự phát triển của đất nước ta, đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2011-2020), nhấn mạnh phát triển bền vững. Đại hội đã tổng kết 25 năm đổi mới, tiếp tục khẳng định sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, bổ sung thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta và nhấn mạnh “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN”; chủ động tích cực hội nhập quốc tế; thực hiện đối ngoại Đảng, ngoại giao của Nhà nước và đối ngoại Nhân dân theo phương châm “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế” và mang đậm bản sắc “Cây tre Việt Nam”. Đại hội đã bầu BCH Trung ương gồm 175 ủy viên chính thức, 25 ủy viên dự khuyết. BCH Trung ương họp bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên, bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục làm Tổng Bí thư. Năm 2013, Đảng chủ trương sửa đổi Hiến pháp, thể chế hóa đường lối đổi mới, tập trung xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm quyền con người, công dân.
Đại hội XII của Đảng (01/2016) - Đại hội tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đại hội có 1.510 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 4,5 triệu đảng viên trên cả nước, tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế. Đại hội đã tổng kết 30 năm đổi mới (1986-2016); kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI; quyết định phương hướng, mục tiêu nhiệm kỳ 2016-2021. Đại hội đặt mục tiêu đến 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao; khẳng định quyết tâm đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển, hội nhập mạnh mẽ và được cụ thể hóa thành 13 nhiệm vụ để thực hiện. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 200 đồng chí (180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết). BCH Trung ương họp bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên; bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục làm Tổng Bí thư.
Đại hội XIII của Đảng (01/2021) - Đại hội tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, chuẩn bị thế và lực đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Đại hội có 1.587 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đất nước và việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII (2016-2020); đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước giai đoạn 2021-2025 và định hướng phát triển đến năm 2045, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Đại hội bầu ra BCH Trung ương gồm 200 đồng chí (180 đồng chí Ủy viên chính thức, 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết). BCH Trung ương họp bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương; bầu đồng chí Nguyễn Phú Trọng tiếp tục làm Tổng Bí thư. Ngày 19/7/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần. Hội nghị BCH Trung ương Đảng khóa XIII họp ngày 3/8/2024, đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được bầu giữ chức Tổng Bí thư.
Đại hội XIV của Đảng (01/2026) - Đại hội dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên CNXH. Đại hội có 1.586 đại biểu tham dự, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng.
Trước kỳ vọng của Nhân dân vào những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, đột phá và hiệu quả của Đảng, Đại hội XIV phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”, đất nước ta sẽ chính thức bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; đòi hỏi phải tạo chuyển biến căn bản về nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn xã hội, xác định tư duy, tầm nhìn và quyết sách chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn 2045. Đặc biệt, đòi hỏi phải phát huy cao nhất tinh thần, ý chí, sức mạnh của Nhân dân - Chủ thể đóng vai trò trung tâm của sự nghiệp kiến tạo kỷ nguyên mới. Đại hội bầu BCH Trung ương gồm 200 đồng chí (180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết). BCH Trung ương họp bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên, đồng chí Tô Lâm tiếp tục được bàu làm Tổng Bí thư.

Ngày 23/01/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra mắt Đại hội XIV.
Trải qua 96 năm xây dựng và trưởng thành (1930-2026), dưới sự lãnh đạo của Đảng với 14 kỳ đại hội đã đưa đất nước ta qua hai kỷ nguyên vẻ vang, đó là “kỷ nguyên độc lập, tự do và xây dựng CNXH (1930-1975)”.
Sau 40 năm đổi mới và hội nhập, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của Nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế, “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Năm 2025, Việt Nam tăng trưởng GDP đạt 8,02%, quy mô GDP đạt 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, thực hiện tinh gọn bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, cả nước từ 63 tỉnh/thành phố giảm xuống còn 34 tỉnh/thành phố; tạo đột phá hạ tầng giao thông và an sinh xã hội (đã hoàn thành sửa chữa 34.759 nhà bị hư hỏng, xây dựng mới được 1.597 nhà tạm, nhà dột nát…), củng cố vững chắc quốc phòng - an ninh, đối ngoại, thiết lập quan hệ ngoại giao với 193/193 nước, có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia (bao gồm toàn bộ 5 nước thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc); khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, chiều 23/1/2026.
Trong bài “Vững bước dưới cờ Đảng”, Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng: “Từ khi có Đảng, dân tộc ta, với truyền thống ngàn năm văn hiến, đã viết tiếp những trang sử hào hùng”. Điều làm nên sức mạnh, uy tín của Đảng không chỉ ở những chiến công hiển hách, mà còn ở tinh thần cầu thị, dám nhìn thẳng vào sự thật, dũng cảm nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Nhờ đó, Đảng ta luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn để ngày càng trong sạch, vững mạnh. Hành trình 96 năm của Đảng đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu”. Những bài học tiêu biểu đó là: “Ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH phải luôn được kiên định nắm vững - đó là hai mục tiêu chiến lược, gắn bó chặt chẽ với nhau trong suốt tiến trình cách mạng…; sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”; Đảng ta luôn coi trọng và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.
Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Bài học lớn bao trùm lên tất cả là: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Lịch sử 96 năm qua khẳng định vai trò tiên phong, “đội quân dẫn đường” của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước…
Đại hội XIV của Đảng đã đề ra những định hướng, mục tiêu chiến lược quan trọng cho giai đoạn sắp tới, đặc biệt là quyết tâm thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Trách nhiệm lịch sử đặt lên vai toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là phải hiện thực hóa những mục tiêu, khát vọng đó thành hiện thực sinh động.
Tổng Bí thư Tô Lâm cho rằng, chặng đường phía trước sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức, nhưng với bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm của Đảng cầm quyền, với truyền thống anh hùng và tinh thần đoàn kết của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, tranh thủ thời cơ, tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa. Mùa xuân của đất nước sẽ mãi tươi đẹp, bền vững khi mỗi người Việt Nam - dù ở cương vị nào – đều nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng giàu mạnh, chung tay xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh. Để mai sau nhìn lại, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam có thể tự hào đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cao cả của dân tộc, đã sống và cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc, cho Nhân dân.
Lê Văn Sơn