Nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp ứng dụng hợp lý những công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội và bảo đảm sự phát triển nông nghiệp bền vững. Trong năm 2023, UBND tỉnh đã chỉ đạo thực hiện đạt nhiều kết quả tốt về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp theo hướng hữu cơ trên địa bàn tỉnh.
Giá trị sản phẩm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 27.107,35 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 33,69% giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực toàn tỉnh năm 2023, đạt 79,38% mục tiêu đến năm 2025. Có 203 mô hình ứng dụng công nghệ cao, vượt 407,5% mục tiêu đến năm 2025.
Để đầu tư phát triển các vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, các địa phương đã rà soát, xác định không gian các vùng sản xuất trong phương án phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững để tích hợp vào quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm cơ sở kêu gọi, thu hút đầu tư vào nông nghiệp gắn với định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp bền vững.
Việc áp dụng các công nghệ mới, công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp, tập trung đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp được thực hiện. Có 05 Dự án ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cấp, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, đồng thời, tập trung quản lý vận hành có hiệu quả đối với 27 phần mềm/cơ sở dữ liệu hiện có, nhất là 02 dự án có ứng dụng công nghệ thông tin liên quan đến quản lý trang trại chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc thực phẩm thiết yếu có nguồn gốc động vật.
Ở lĩnh vực trồng trọt: 100% diện tích trồng mới và tái canh đã sử dụng các giống mới, giống có chất lượng cao; 151 đơn vị sản xuất, chế biến nông sản được cấp nhãn hiệu hàng hóa; ứng dụng hệ thống tưới nước tiết kiệm trên cây trồng với diện tích 59.754 ha, chiếm gần 31,27% so với tổng diện cây trồng chủ lực của tỉnh có nhu cầu tưới, tăng 2.118 ha so với năm 2021; có 2.990 ha cây trồng chủ lực của tỉnh đạt chứng nhận sản xuất an toàn, trong đó, có 07 mô hình đạt chứng nhận hữu cơ với quy mô 27,2 ha, tăng 1.355 ha so năm 2021; khoảng 1.000 ha chuối, lúa ứng dụng máy bay không người lái phun thuốc bảo vệ thực vật; 100% diện tích lúa được thu hoạch bằng máy gặt đập liên hợp, ứng dụng máy thu hoạch đối với bắp cây, bắp lấy hạt và đậu các loại; gần 149 ha diện tích cây trồng ứng dụng công nghệ nhà màng, nhà lưới; bước đầu ứng dụng công nghệ Internet vạn vật (loT), thực hiện giám sát và điều khiển các thông số tiểu khí hậu trồng trọt như nhiệt độ, độ ẩm tương đối của không khí, ánh sáng, dinh dưỡng từ xa bằng điện thoại thông minh hay máy tính.
Ở lĩnh vực chăn nuôi: Toàn tỉnh có khoảng 65% đàn heo, 49% đàn gà được chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao; 29 doanh nghiệp chăn nuôi ứng dụng công nghệ cao. Khoảng 27,5% trang trại chăn nuôi sử dụng chuồng lạnh, chuồng kín, tăng thêm 6,5% so với năm 2021; 83,91% cơ sở chăn nuôi có hệ thống xử lý chất thải bảo đảm tiêu chuẩn; duy trì 05 vùng an toàn dịch bệnh, 657 cơ sở được công nhận an toàn dịch bệnh; 125 trang trại, 07 tổ hợp tác chăn nuôi có chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP, với quy mô hàng năm cung cấp ra thị trường tương đương 88,1 ngàn tấn thịt heo (chiếm 18,36% sản lượng thịt heo), 32,2 ngàn tấn thịt gà (chiếm 18,53% sản lượng thịt gà), 283,2 triệu quả trứng (chiếm 22,59%) sản lượng trứng gà toàn tỉnh), ứng dụng công nghệ chuỗi khối trong quản lý dữ liệu chăn nuôi (hiện có 1.758 trang trại đăng ký khai báo và được xác nhận thông tin trên phần mềm Te-Food); 1.187 cá nhân, tổ chức thực hiện truy xuất nguồn gốc sản phẩm chăn nuôi. Tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi chủ lực áp dụng công nghệ cao đạt 18.190,6 tỷ đồng, chiếm 61,88% so với tống giá trị sản phẩm chăn nuôi chủ lực toàn tỉnh.
Ở lĩnh vực thủy sản: Mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng ứng dụng công nghệ cao (CPB Combine) tại huyện Nhơn Trạch tiếp tục được nhân rộng với quy mô 171 ha, tăng 30 ha so với năm 2020 (cho lợi nhuận bình quân của mô hình khoảng 600-800 triệu đồng/ha); hướng dẫn các hộ nuôi tại 14 vùng nuôi thủy sản tiếp tục sản xuất theo quy trình VietGAP với quy mô 401,75 ha và 80.366 m3 lồng/bè, tống sản lượng 15.282 tấn cá, tôm các loại. Tổng giá trị sản phẩm thủy sản chủ lực áp dụng công nghệ cao sản xuất đạt 430 tỷ đồng, chiếm 15,6% so với tổng giá trị sản phẩm thủy sản chủ lực toàn tỉnh.
Tuy nhiên, kết quả thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong năm cũng còn những hạn chế: Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao cần nguồn vốn rất lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng và nhận diện thương hiệu, đầu tư sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực, tiêu thụ sản phẩm và nhất là nhập thiết bị, trong khi đó, các chính sách hỗ trợ ứng dụng công nghệ chưa tạo được phong trào đổi mới, ứng dụng công nghệ nhanh và mạnh để tạo sự đột phá trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Công tác triển khai thực hiện Đề án nghiên cứu khả thi phát triển bền vững nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Israel trên địa bàn tỉnh Đông Nai đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 còn nhiều khó khăn, vướng mắc, chậm so với lộ trình, kế hoạch đề ra.
Từ kết quả như trên, nhiệm vụ và giải pháp được đề ra cho thời gian tới nhằm đẩy mạnh ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; phát triển mạnh khoa học, công nghệ và khuyến nông gồm:
- Tăng cường công tác chuyển giao và hợp tác nghiên cứu, chuyển giao các đề tài, đề án, dự án khoa học - công nghệ lĩnh vực nông nghiệp, ưu tiên thực hiện trên các cây trồng, vật nuôi chủ lực được khuyến khích phát triến, nhất là về giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, phù hợp điều kiện tự nhiên và khí hậu ở địa phương, kháng sâu bệnh. Trong đó, tập trung một số nhiệm vụ như: phối hợp, theo dõi việc thực hiện 33 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ thuộc “Chương trình khoa học - công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”; triển khai 06 đề tài/dự án đã được UBND tỉnh phê duyệt; hướng dẫn, hỗ trợ các Tổ khuyến nông cộng đồng tại các xã xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh hoạt động hiệu quả.
- Tăng cường áp dụng các công nghệ mới, công nghệ thông tin trong sản xuất nông nghiệp, tập trung đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, kinh tế số trong lĩnh vực nông nghiệp. Đẩy nhanh triển khai thực hiện 05 Dự án ứng dụng công nghệ thông tin và nâng cấp, phát hiển hạ tầng công nghệ thông tin. Đồng thời, tập trung quản lý vận hành có hiệu quả đối với 27 phần mềm/cơ sở dữ liệu hiện có, nhất là 02 dự án có ứng dụng công nghệ thông tin liên quan đến quản lý trang trại chăn nuôi và truy xuất nguồn gốc thực phẩm thiết yếu có nguồn gốc động vật.
Mai Quỳnh