Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam năm 2023[1] là 78,6%. Trước đây, nước ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, nhưng nhiều nội dung liên quan tới công nghệ thông tin, viễn thông, Internet, an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, thông tin cá nhân được quy định ở nhiều văn bản khác nhau. Điều này dẫn tới thực trạng trùng dẫm, chồng chéo, tản mác, khó áp dụng và thực thi các quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Một số vấn đề mới phát sinh như buôn bán, sử dụng dữ liệu cá nhân, vấn đề lưu chuyển, thu thập, xử lý, phân tích, lưu trữ dữ liệu cá nhân, lưu chuyển dữ liệu cá nhân qua biên giới chưa được đề cập. Trong khi đó, chế tài xử lý chưa đủ mạnh, chưa đủ sức răn đe và thực tế là số vụ việc xử lý hành vi vi phạm về dữ liệu cá nhân còn chưa nhiều. Do đó, việc ban hành Nghị định số 13/2023/NĐ-CP, ngày 17/4/2023 của Chính phủ về “bảo vệ dữ liệu cá nhân” là cơ sở pháp lý để hạn chế rủi ro liên quan đến dữ liệu cá nhân là cấp thiết và phù hợp với thực tế hiện nay (Nghị định).

Theo Nghị định, dữ liệu cá nhân được hiểu là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự trên môi trường điện tử gắn liền với một con người cụ thể hoặc giúp xác định một con người cụ thể. Dữ liệu cá nhân bao gồm dữ liệu cá nhân cơ bản[2] và dữ liệu cá nhân nhạy cảm[3]. Nghị định đã xác lập quyền, nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu; quy định về quy trình, cách thức áp dụng các biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; xác định cơ quan chuyên trách bảo vệ dữ liệu cá nhân; lực lượng bảo vệ dữ liệu cá nhân; cổng thông tin quốc gia về bảo vệ dữ liệu cá nhân; thủ tục hành chính về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là những quy định quan trọng, thiết thực để hạn chế tình trạng chuyến giao trái phép, mua bán dữ liệu cá nhân tràn lan như hiện nay.
Đi vào cụ thể, Nghị định quy định 11 quyền[4], 05 nghĩa vụ[5] đối với chủ thể dữ liệu và đặc biệt là 05 hành vi bị nghiêm cấm trong xử lý dữ liệu cá nhân, đó là: 1- Xử lý dữ liệu cá nhân trái với quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân. 2- Xử lý dữ liệu cá nhân để tạo ra thông tin, dữ liệu nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 3- Xử lý dữ liệu cá nhân để tạo ra thông tin, dữ liệu gây ảnh hưởng tới an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. 4- Cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân của cơ quan có thẩm quyền. 5- Lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để vi phạm pháp luật.
Dữ liệu cá nhân là đầu vào và giá trị vô tận cho nền kinh tế số. Hầu hết các ngành, lĩnh vực đều sử dụng dữ liệu cá nhân để xử lý dữ liệu như: hành chính, y tế, hình sự, hộ tịch, quốc tịch, chứng thực, thương mại điện tử, giáo dục, tài chính, ngân hàng, thuế và hoạt động thuế, công nghệ thông tin, truyền thông, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, điện toán đám mây, dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh. Do đó, phải đảm bảo cho thông tin cá nhân được sử dụng đúng mục đích, phục vụ đắc lực cho xã hội, hạn chế tối đa nguy cơ bị sử dụng, lạm dụng và có cơ chế, chế tài xử lý các hành vi vi phạm.
Ngọc Ánh
[1]https://www.mic.gov.vn/solieubaocao/Pages/TinTuc/162876/So-lieu-thong-ke-linh-vuc-Vien-thong--tinh-den-thang-12-2023.html
[2] Họ, chữ đệm và tên khai sinh; ngày tháng năm sinh hoặc mất, mất tích; giới tính; nơi sinh, nơi đăng ký khai sinh, nơi thường trú, tạm trú, nơi ở hiện tại, quê quán, địa chỉ liên hệ; Quốc tịch; hình ảnh cá nhân; số điện thoại, số chứng minh, số định danh cá nhân…; tình trạng hôn nhân; thông tin về quan hệ gia đình; tài khoanb3 số cá nhân…
[3] Quan điểm chính trị, quan điểm tôn giáo; tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, không bao gồm thông tin về nhóm máu; thông tin về nguồn gốc chủng tộc, nguồn gốc dân tộc; thông tin đặc điểm di truyền
[4] 11 quyền: Quyền được biết; Quyền đồng ý; Quyền truy cập; Quyền rút lại sự đồng ý; Quyền xóa dữ liệu; Quyền hạn chế xử lý dữ liệu; Quyền cung cấp dữ liệu; Quyền phản đối xử lý dữ liệu; Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện; Quyền tự bảo vệ.
[5] 05 nghĩa vụ: 1-Tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình; yêu cầu các tổ chức, cá nhân khác có liên quan bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình; 2-Tôn trọng, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người khác; 3-Cung cấp đầy đủ, chính xác dữ liệu cá nhân khi đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân; 4-Tham gia tuyên truyền, phổ biến kỹ năng bảo vệ dữ liệu cá nhân; 5-Thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và tham gia phòng, chống các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân.