Hiện nay, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Toàn cầu hóa làm mềm đi biên giới giữa các quốc gia, toàn cầu hóa mang thế giới xích lại gần nhau bằng hệ thống số, thông tin đã và đang biến đổi sâu rộng không những cơ cấu chính trị, mô hình kinh tế, tổ chức xã hội các nước, mà ngay chính cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, toàn cầu hóa cũng làm tăng nảy sinh mâu thuẫn trong nội bộ các nước giàu, phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa nước giàu và nước nghèo. Toàn cầu hóa cũng tạo ra các cuộc đụng độ, va chạm liên quan đến tôn giáo, sắc tộc trên thế giới, như: Tin Lành ở Bắc Ailen, Công giáo và Hồi giáo ở Philippin hay ở khu vực Hồi giáo khác … Cùng với sự biển đổi sâu sắc, khủng hoảng về lối sống, đạo đức, nghèo đói, thất nghiệp, biến đổi khí hậu, …. Làm cho số phận của con người ngày càng mong manh hơn, tạo điều kiện để tôn giáo thể hiện vai trò của mình trên lĩnh vực tinh thần và tham gia sâu hơn vào lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và hoà bình thế giới.
Với tác động của toàn cầu hóa, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam và Đồng Nai sẽ ngày càng tham gia sâu rộng vào các hoạt động xã hội, không chỉ ở phạm vi hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội mà trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, cũng như các hoạt động quốc tế. Đặt ra cho Đảng, Nhà nước và cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai cần có ứng xử phù hợp với các tôn giáo để vừa phát huy nguồn lực tôn giáo đóng góp cho sự phát triển của đất nước nói chung và cho sự phát triển của tỉnh Đồng Nai nói riêng. Tuy nhiên, để phát huy nguồn lực tôn giáo, cần nhìn nhận đúng, khách quan về nguồn lực của tôn giáo, tránh "tô hồng" đối với "tôn giáo người nhà", "bôi đen" đối với tôn giáo bị định kiến. Tôn giáo có một số thế mạnh, song không vì thế mà tuyệt đối hóa hay đề cao thái quá nguồn lực của tôn giáo so với các thành phần, lực lượng xã hội khác; cần nhận thức rõ nguồn lực của tôn giáo không phải là nguồn lực không thể thay thế; Trong phát huy nguồn lực tôn giáo, về chính sách chỉ cần tạo hành lang pháp lý để tổ chức tôn giáo được tham gia các lĩnh vực bình đẳng như những chủ thể khác, mà không cần và không nên có chính sách ưu đãi riêng cho tổ chức tôn giáo, vì ưu đãi riêng cũng đồng nghĩa với khuyến khích tôn giáo phát triển không hợp pháp. Chúng ta chỉ cần khơi thông nguồn lực tôn giáo sẵn có và đưa nguồn lực ấy vận hành trong khung pháp lý với những điều kiện như những pháp nhân khác; Về quản lý, cần phân biệt các hoạt động từ thiện nhân đạo, bảo trợ xã hội, y tế, giáo dục, dạy nghề của tôn giáo với hoạt động tôn giáo và nên tách bộ máy thực hiện các hoạt động này ra khỏi bộ máy hành chính đạo của tôn giáo, hướng các tổ chức tôn giáo thành lập pháp nhân riêng (hoặc là pháp nhân phi thương mại, hoặc là pháp nhân thương mại, tùy thuộc mục đích) để điều hành hoạt động trên các lĩnh vực mà tôn giáo có khả năng tham gia/hỗ trợ như: giáo dục, y tế, dạy nghề, bảo trợ xã hội và làm kinh tế; Đặt vấn đề phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển kinh tế - xã hội thì cũng nên đồng thời, chấp nhận thực tế là sự hiện diện và ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội sẽ theo đó mà tăng lên, cạnh tranh với dịch vụ của Nhà nước, tổ chức xã hội khác; phát huy nguồn lực tôn giáo cần tránh thương mại hóa tôn giáo, càng tránh chính trị hóa tôn giáo; phát huy nguồn lực tôn giáo không có nghĩa không hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo.
Từ thực tiễn kết quả đạt được trong việc phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh, đồng thời, để tiếp tục khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực của các tôn giáo, biến nguồn lực tôn giáo trở thành thực thể quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cần tập trung vào 02 nhóm giải pháp, đó là nhóm giải pháp từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo (cơ chế, chính sách, công tác quản lý nhà nước; công tác tuyên truyền, vận động ... các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội) và nhóm giải pháp từ bên trong (nội tại của các tổ chức tôn giáo) cụ thể như sau:
* Nhóm giải pháp bên ngoài ảnh hưởng đến việc phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo
- Giải pháp về hoàn thiện pháp luật của Nhà nước
Thứ nhất, hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm phát huy nguồn lực tôn giáo phải trên cơ sở quán triệt và cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về tôn giáo, về phát huy giá trị tích cực đạo đức, văn hóa và nguồn lực tôn giáo đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Đây là nguyên tắc mang tính bắt buộc trong xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm phát huy nguồn lực tôn giáo. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta khẳng định “tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng trong giai đoạn mới của đất nước”. Vì vậy, trong quá trình hoàn thiện pháp luật có liên quan đến tôn giáo cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng được thể hiện trong văn kiện của các kỳ đại hội của Đảng, nhất là các quan điểm tại Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), Chỉ thị số 18-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII).
Thứ hai, hoàn thiện quy định của pháp luật nhằm phát huy nguồn lực tôn giáo phải thống nhất, đồng bộ với các nội dung khác của ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật, với quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.
Các quy định của pháp luật liên quan đến việc phát huy nguồn lực tôn giáo chỉ là bộ phận cấu thành của ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật, được thiết chế trong một số điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, để đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của pháp luật, đòi hỏi việc tiến hành hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm phát huy nguồn lực tôn giáo phải đặt trong tổng thể hoàn thiện pháp luật chuyên ngành; phải được thực hiện trên cơ sở lộ trình, bước đi của quá trình thực hiện hoàn thiện pháp luật về chuyên ngành; phù hợp với nội dung của pháp luật chuyên ngành; thống nhất hữu cơ với các bộ phận cấu thành khác của văn bản quy phạm pháp luật về chuyên ngành. Có như vậy, pháp luật mới đáp ứng được yêu cầu của việc hoàn thiện.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo trong Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX), Chỉ thị số 18-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) và Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Trong quá trình thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, những nội dung bất cập, khó thực hiện và không khả thi đề xuất Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung. Các cơ quan Trung ương liên quan, sớm tích hợp quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo vào hệ thống luật có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo làm cơ sở để phòng ngừa, hạn chế và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của các cá nhân, tổ chức thực thi pháp luật.
Bộ Tài Nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng phối hợp với các bộ, ban, ngành của Trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho Quốc hội, Chính phủ sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan đến tôn giáo phù hợp với thực tiễn, đồng bộ với Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Bộ Y tế nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến việc các tổ chức tôn giáo thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cả y và dược, vừa để các tổ chức tôn giáo có hành lang pháp lý thực hiện, vừa cụ thể hóa quan điểm phát huy nguồn lực tôn giáo vào phát triển đất nước. Phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ), các bộ, ban, ngành có liên quan của Trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, rà soát, phân loại, đánh giá các loại hình hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đông y, tây y của các tổ chức tôn giáo (do tổ chức tôn giáo quản lý, điều hành hoặc do cá nhân đứng tên nhưng tổ chức tôn giáo quản lý, điều hành); đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ sở này đối với đời sống xã hội và đề xuất cơ chế, chính sách để quản lý và phát huy hoạt động xã hội hóa của tôn giáo trong lĩnh vực khám chữa bệnh.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nghiên cứu để cụ thể hóa quan điểm của Đảng về “phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo”, bảo đảm các hoạt động tín ngưõng, tôn giáo vừa đóng góp tích cực trong việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, vừa khắc phục những hành vi lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi. Thực hiện hiệu quả nguyên tắc quản lý tín ngưỡng, tôn giáo đảm bảo an toàn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định về bảo trợ xã hội, phòng chống HIV/AIDS và cai nghiện để tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo tham gia triển khai, thực hiện. Chủ trì, phối hợp với Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ), Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các bộ, ngành Trung ương và địa phương có liên quan rà soát, kiểm tra, đánh giá thực trạng, hiệu quả hoạt động giáo dục dạy nghề; bảo trợ xã hội; hoạt động cai nghiện do các tổ chức tôn giáo thực hiện, đề xuất chính sách khuyến khích tôn giáo tham gia và giải pháp quản lý.
Bộ Giáo dục và Đào tạo tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định, đồng thời, ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết một số nội dung của Luật Giáo dục năm 2019. Trong đó, cần có quy định, hướng dẫn cụ thể các hoạt động giáo dục mà tổ chức tôn giáo được tham gia thực hiện theo quy định của Luật giáo dục; cơ chế hoạt động; chính sách đối với các trường tư thục, dân lập do tổ chức tôn giáo lập, quản lý.
Luật pháp càng đồng bộ, rõ ràng thì việc thực hiện chính sách, pháp luật mới thống nhất và khả thi. Đồng thời, là đảm bảo tính minh bạch, bình đẳng giữa trách nhiệm, quyền lợi của các tổ chức tôn giáo; giữa tổ chức tôn giáo và các tổ chức xã hội khác, thúc đẩy sự đồng thuận trong quan hệ giữa Nhà nước với tôn giáo; sự đồng nhất trong việc ban hành và thực thi chính sách, pháp luật liên quan đến tôn giáo. Đây cũng chính là cơ sở để tiếp tục xây dựng mô hình nhà nước trong quan hệ với tôn giáo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
- Giải pháp về tăng cường thực hiện công tác vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức cho chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ các tôn giáo và đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị về chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo, phát huy nguồn lực tôn giáo đóng góp cho sự phát triển đất nước
Quản lý nhà nước về nguồn lực tôn giáo chỉ thuận lợi, dễ dàng; các quy định của pháp luật về phát huy nguồn lực tôn giáo chỉ được thực hiện nghiêm túc, triệt để khi chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ của các tôn giáo hiểu biết đầy đủ chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và có ý thức chấp hành thực hiện các chủ trương, chính sách đó. Thực tiễn trong những năm qua ở Việt Nam cho thấy, sau khi các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước được ban hành và đi vào cuộc sống, các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương bằng nhiều hình thức đã tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách đó đến với đồng bào các tôn giáo, nhất là đội ngũ chức sắc, nhà tu hành, chức việc. Tuy nhiên, tình hình vi phạm pháp luật, không chấp hành pháp luật trong hoạt động tôn giáo của một bộ phận chức sắc, nhà tu hành, chức việc còn diễn ra thường xuyên, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước. Có thể nói, những hành vi vi phạm pháp luật đó không hoàn toàn là do thiếu hiểu biết pháp luật mà còn là do ý thức chấp hành pháp luật thấp, vì hầu hết chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo là những người có trình độ học vấn khá cao, có khả năng tiếp thu tất cả những chính sách, pháp luật của Nhà nước, thậm chí một số quy định của Nhà nước được họ nghiên cứu kỹ và hiểu rõ từng nội dung chi tiết. Cho nên, dù chính sách pháp luật của Nhà nước có kịp thời, đúng đắn, nhưng đội ngũ chức sắc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo thiếu ý thức chấp hành thì khó khăn trong triển khai thực hiện. Chỉ khi có ý thức chấp hành pháp luật thì họ mới nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật và các quy định, quyết định của chính quyền địa phương, giảm thiểu những hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tôn giáo.
Vì vậy, song song với việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao hiểu biết pháp luật, thì công tác nâng cao ý thức chấp hành, thực hiện pháp luật cho chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ tôn giáo là rất quan trọng. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần có sự kết hợp tham gia của cả hệ thống chính trị. Bên cạnh nhiệm vụ tuyên tuyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan chức năng của Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện thì vai trò của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở là rất quan trọng. Thông qua các cuộc họp dân ở các khu phố, tổ dân cư, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể ở cơ sở cần thường xuyên tuyên tuyền, vận động quần chúng nhân dân, nhất là quần chúng tín đồ tôn giáo có ý thức chấp hành, thực hiện hiệu quả chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có như vậy, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của tôn giáo cho quá trình phát triển đất nước” là mới được đông đảo đồng bào các tôn giáo đón nhận và tin tưởng thực hiện.
Trong hơn 38 năm qua thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách về công tác tôn giáo, các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức nhiều hội nghị quán triệt cho tất cả cán bộ chủ chốt của cả bốn cấp, Trung ương, tỉnh, huyện, xã và tất cả đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Nhưng đến nay, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên ở một số cấp ủy, chính quyền, nhất là cấp cơ sở vẫn chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo. Trong đó, một số nơi, Cấp ủy, chính quyền và một số cán bộ, đảng viên vẫn còn giữ quan điểm cũ, cứng nhắc, tả khuynh đối với tôn giáo, đối với việc giải quyết các hoạt động tôn giáo và các vấn đề liên quan đến việc tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực của xã hội (giáo dục, y tế, bảo trợ, từ thiện). Ngược lại, một số nơi khác, cấp ủy, chính quyền lại hữu khuynh, buông lỏng quản lý nhà nước trong hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Do đó, làm giảm hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước về tôn giáo và phát huy nguồn lực của tôn giáo đóng góp cho sự phát triển đất nước.
Trước thực trạng trên, cần tiếp tục quán triệt nhằm chuyển biến nhận thức về chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị. Làm cho tất cả đội ngũ cán bộ ở mọi vị trí công tác, nhất là cán bộ làm công tác tôn giáo, làm công tác liên quan đến phát huy nguồn lực tôn giáo của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp và cán bộ, đảng viên ở vùng có đông tín đồ tôn giáo sinh sống hiểu đúng, hiểu đủ chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước; nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của công tác tôn giáo, phát huy nguồn lực tôn giáo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Có như vậy, đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị mới có quan điểm, nhận thức đúng đắn, giải quyết và tham mưu cơ quan có thẩm quyền giải hoạt động của tổ chức, cơ sở tôn giáo vừa đúng với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực tiễn tình hình hoạt động tôn giáo trên các địa bàn. Tuy nhiên, công tác tổ chức quán triệt không thực hiện một cách ồ ạt, qua loa, chiếu lệ mà phải có chương trình, kế hoạch và nội dung cụ thể, phù hợp với từng nhóm đối tượng, và phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục ở mọi cấp, mọi ngành.
- Giải pháp về nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, phát huy nguồn lực các tôn giáo tỉnh Đồng Nai đóng góp cho sự phát triển của tỉnh Đồng Nai và phát triển đất nước
Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng chỉ có thể đi vào thực tiễn cuộc sống đầy đủ khi quan điểm, chủ trương, đường lối đó được thể chế thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cũng như vậy, chính sách, pháp luật của Nhà nước chỉ được thực thi triệt để, hiệu quả ở phạm vi địa phương khi chính sách, pháp luật đó được chính quyền địa phương cụ thể hóa cho phù hợp với thực tiễn tình hình ở địa bàn. Do đó, để có cơ sở triển khai nghiêm túc, hiệu quả cao nhất chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy nguồn lực tôn giáo đóng góp cho sự phát triển của địa phương tỉnh Đồng Nai, của đất nước, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành của tỉnh và Cấp ủy, Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố: (1) Phối hợp, tham mưu UBND tỉnh ban hành các quyết định, chỉ thị, kế hoạch và các loại văn bản khác nhằm cụ thể hóa các chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực phát huy nguồn lực tôn giáo phù hợp với tình hình hoạt động tôn giáo và công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Đồng Nai. (2) Ban hành các văn bản chỉ đạo cụ thể trách nhiệm của các cơ quan chức năng của tỉnh và UBND các huyện, thành phố trong công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, nhất là các hoạt động của các tổ chức tôn giáo có liên quan đến xã hội như y tế, giáo dục, dạy nghề, bảo trợ, tù thiện,... trên địa bàn tỉnh. (3) Rà soát các văn bản của các sở, ban, ngành của tỉnh và Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố đã ban hành liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, đến phát huy nguồn lực tôn giáo để thay thế, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và phù hợp với tình hình thực tiễn hoạt động tôn giáo. (4) Tham gia góp ý đối với việc sửa đổi, bổ sung các quy định trong các luật chuyên ngành nhằm đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy các tổ chức tôn giáo có thế mạnh, tiềm năng tham gia, tổ chức các hoạt động xã hội, đóng góp nguồn lực cho xây dựng và phát triển đất nước nói chung, tỉnh Đồng Nai nói riêng.
Cấp ủy, chính quyền tỉnh Đồng Nai, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tôn giáo, quán triệt và nhận thức sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị, đặc biệt là người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị-xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tôn giáo. Phát vai trò của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức chính trị-xã hội và tranh thủ sự hỗ trợ của chức sắc, nhà tu hành, chức việc đưa nội dung tuyên truyền chính sách, pháp luật vào các kỳ sinh hoạt, ngày lễ của tôn giáo, để đồng bào tôn giáo hiểu, ủng hộ và cùng tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội.
Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo hoạt động theo pháp luật; phát huy các yếu tố nhân văn, các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo, đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân; quan tâm giải quyết nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đồng bào có đạo. Quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn việc phát huy nguồn lực các tôn giáo trong hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội được thuận lợi; kịp thời chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên lợi dụng chức vụ và quyền hạn gây cản trở việc huy động nguồn lực của các tổ chức tôn giáo; đồng thời giải quyết một cách hài hòa các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn.
Tạo điều kiện đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trình độ, kỹ năng tham gia hoạt động giáo dục, y tế, dạy nghề, từ thiện nhân đạo của các tổ chức tôn giáo. Cấp ủy, chính quyền các cấp tỉnh Đồng Nai cần quan tâm giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến cơ sở từ thiện, bảo trợ xã hội do tôn giáo đã có thời gian quản lý sử dụng. Về mặt nguyên tắc “Nhà nước không thừa nhận và giải quyết việc đòi lại nhà, đất mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan đến nhà đất do đây thuộc sở hữu toàn dân”. Tuy nhiên, nếu tổ chức tôn giáo có nhu cầu chính đáng, Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo theo các quy định của nhà nước về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập.
Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong giải quyết các hoạt động tôn giáo, hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Các cơ quan chức năng của tỉnh tham mưu HĐND, UBND tỉnh có chính sách hỗ trợ các tổ chức tôn giáo thành lập các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, người già cô đơn; cơ sở chăm sóc sức khỏe người nghèo, người tàn tật, người nhiễm HIV/AIDS, bệnh nhân phong, tâm thần; cơ sở dạy nghề cho các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Mặt khác, đề xuất các cơ quan Trung ương cần nghiên cứu sửa đổi quy định của Nhà nước về việc tuyển chọn, sử dụng và quản lý người Việt Nam làm việc trong các tổ chức phi chính phủ (NGO) tôn giáo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam theo hướng đơn giản hơn nữa thủ tục hành chính, để thu hút thêm các nguồn lực trong hoạt động an sinh xã hội tại địa phương.
Một trong những thành tựu quan trọng trong công tác tôn giáo ở Đồng Nai thời gian qua là việc cơ quan quản lý nhà nước đã giúp đỡ, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tích cực, gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Từ đường hướng đó, chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ các tôn giáo luôn ý thức trách nhiệm với quê hương đất nước không phải chỉ là tình cảm, trách nhiệm công dân, mà còn là đòi hỏi của đường hướng hành đạo mà các tôn giáo đã đề ra.
Đảng, Nhà nước Việt Nam có chủ trương xã hội hoá hoạt động giáo dục, y tế, dạy nghề, từ thiện nhân đạo. Đây là một chủ trương nhất quán, lâu dài của Đảng, Nhà nước, trong đó, các tổ chức tôn giáo chính là nguồn lực góp phần thực hiện tốt chủ trương này. Theo đó, ở địa phương tỉnh Đồng Nai, chính quyền không những triển khai có hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với các tôn giáo, mà còn cần tạo điệu kiện, hướng dẫn, vận dụng và vận động để các tôn giáo được tham gia hoạt động xã hội một cách phù hợp nhất theo quy định của pháp luật, theo khả năng và tinh thần trách nhiệm cao. Vận động đồng bào có đạo, đặc biệt là chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội, cùng toàn dân quan tâm chăm sóc người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn phù hợp với giá trị văn hóa, đạo đức của các tôn giáo và dân tộc. Làm chất keo gắn kết đồng bào các tôn giáo và đồng bào không có tôn giáo, đạo - đời trong khối đoàn kết toàn toàn dân tộc. Vận động chức sắc, nhà tu hành, tín đồ tôn giáo tham gia các đoàn thể xã hội, nhất là chăm lo, tập hợp giáo dục giới trẻ sống có trách nhiệm, có ích, gương mẫu đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước.
Hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội liên quan đến tôn giáo hiện cũng là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ bị lợi dụng vì các mục đích xấu như trục lợi, khuếch trương thanh thế, truyền đạo trái pháp luật và cũng là nguyên nhân mà các thế lực thù địch thường sử dụng để công kích, chống phá chế độ ta. Đảng và Nhà nước ta chủ trương khuyến khích tổ chức, cá nhân các tôn giáo tham gia vào hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội theo quy định pháp luật. Chính vì vậy, công tác quản lý nhà nước cần chủ động hướng dẫn các tổ chức, chức sắc, tín đồ các tôn giáo chủ động, tích cực tham gia hoạt động an sinh xã hội tại địa phương, trên cơ sở đảm bảo đúng chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về tôn giáo. Do đó, vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước cần thực hiện như thế nào để vừa phát huy được nhiều nguồn lực từ các tổ chức tôn giáo tham gia, vừa bảo đảm việc quản lý, giám sát các tổ chức tôn giáo trong hoạt động an sinh xã hội đúng quy định pháp luật; tránh việc lợi dụng vận động quyên góp, phân phối, cứu trợ để trục lợi hoặc thực hiện các mưu đồ ngoài mục đích từ thiện, nhân đạo gây mất an ninh chính trị, trật tự tại địa phương. Đồng thời, giúp nâng cao hiệu quả, tăng tính minh bạch trong hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội của các tổ chức tôn giáo.
* Nhóm giải pháp từ bên trong của các tôn giáo trong việc sử dụng nguồn lực của tôn giáo
Các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo cần ý thức sâu sắc về việc tôn giáo mình đã và đang sở hữu một hệ thống nguồn lực rất to lớn; hệ thống nguồn lực này nếu được phát huy hiệu quả thì sẽ tác động tích cực đến sự sự phát triển cho tôn giáo và cho xã hội. Vậy, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo cần xác định và dự báo về khả năng, triển vọng thực tế nguồn lực của tổ chức tôn giáo mình để chủ động đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Đồng bào các tôn giáo cũng cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của chính mình không chỉ trong sinh hoạt, hoạt động tôn giáo với tư cách là một tín đồ mà còn phải tích cực trong tham gia đóng góp cho xã hội với tư cách là một công dân. Do đó, trong hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội, chức sắc, nhà tu hành, chức việc, tín đồ các tôn giáo cần nhận thức việc phát huy nguồn lực tôn giáo là việc của chính người tôn giáo, do tôn giáo, các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo tham gia như là nhân tố phối hợp, là môi trường xã hội đồng thuận và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm tạo ra môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi nhất cho các tổ chức tôn giáo huy động nguồn lực của tôn giáo mình.
Theo đó, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo cần chủ động xây dựng phương hướng, giải pháp huy động nguồn lực trong hoạt động an sinh xã hội, trong đó quan tâm đến sở trường, thế mạnh của tôn giáo mình. Từ đó, các tổ chức tôn giáo phát huy tính tích cực xã hội của chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo trong hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội, góp phần xây dựng địa phương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn nữa.
Việc tham gia các hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội là hoạt động lâu dài. Vì vậy, hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội của tôn giáo không nên chỉ dừng lại ở phương diện hỗ trợ vật chất nhất thời, mà cần có kế hoạch lâu dài để đáp ứng được yêu cầu của xã hội và theo đúng tôn chỉ, mục đích của tôn giáo. Để thực hiện được điều này, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo cần quan tâm thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, xây dựng ý thức tự chủ hoạt động và tài chính của tôn giáo là hết sức quan trọng, chỉ có như vậy mới làm cho các tổ chức tôn có được thực lực để ổn định, phát triển hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội, đồng thời, tránh được những tác động tiêu cực từ xã hội. Muốn làm được như vậy, đòi hỏi các tôn giáo phải năng động hơn trong hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội để ngày càng nâng cao ảnh hưởng, sự hiện diện, vị thế và hơn nữa là chủ động nguồn kinh phí phục vụ cho hoạt động xã hội.
Thứ hai, chuẩn bị tốt đội ngũ nhân sự để tham gia vào các hoạt động hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội. Thực tế nguồn nhân lực cho hoạt động xã hội của các tôn giáo hiện nay chủ yếu dựa vào khả năng sẵn có của mỗi tôn giáo, tự phát theo hướng “mạnh ai nấy làm”, nhỏ lẻ, thiếu tính chuyên nghiệp, trong khi các hoạt động hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội đều đòi hỏi, quy định mỗi người tham gia cần có chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, nhất là các lĩnh vực hoạt động giáo dục, y tế, dạy nghề đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ ở mức độ cao, chuyên sâu. Điều này, sẽ là rào cản cho các tổ chức tôn giáo khi có môi trường thuận lợi trong tham gia. Vì vậy, các tổ chức cần chuẩn bị nhân sự, tổ chức đào tạo các tình nguyện viên, nhà tu hành, chức sắc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật, tổ chức, nghiệp vụ tài chính, y tế, giáo dục, dạy nghề và hoạt động xã hội theo luật định. Có như vậy, tôn giáo mới có đủ thế và lực tham gia vào các hoạt động xã hội trong điều kiện mới.
Thứ ba, chuẩn bị tốt cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội.
Đến thời điểm hiện tại, phần lớn các hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội của các tổ chức tôn giáo được tổ chức gắn liền với các cơ sở tôn giáo (nơi thờ tự và sinh hoạt của chức sắc, nhà tu hành, tín đồ), nên phát sinh khó khăn, hạn chế nhất định trong quá trình thực hiện các hoạt động của cơ sở y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội theo đúng chức năng, nhiệm vụ. Trong thời gian tới, thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành sẽ được sử đổi, bổ sung theo hướng quy định việc thành lập, hoạt động của các cơ sở y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội dân lập, tư thục với các tiêu chí, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự, tài chính,… cao hơn quy định hiện hành. Nhất là thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII), nội dung liên quan đến đất đai tôn giáo trong Luật Đất đai sẽ sửa đổi theo hướng giao đất cho cơ sở tôn giáo có diện tích giới hạn nhất định, các nhu cầu sử dụng đất phục vụ cho hoạt động của tổ chức tôn thực hiện như các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật. Vì vậy, để chuẩn bị tốt các điều kiện tham gia sâu, rộng trong các hoạt động y tế, giáo dục, dạy nghề, từ thiện, bảo trợ xã hội thuộc các lĩnh vực mà tôn giáo có tiềm năng, thế mạnh, đòi hỏi tổ chức tôn giáo cần có kế hoạch, chương trình kỹ lưỡng về tạo lập quỹ đất, cơ sở vật chất mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, thực hiện có hiệu quả hoạt động mà tổ chức tôn giáo tham gia.
Tuy các tôn giáo khác nhau, nguồn lực khác nhau, nhưng điều có chung điểm tương đồng là tham gia đóng góp tích cực cho sự phát triển của Đồng Nai, phát triển của đất nước phù hợp với khả năng, đặc điểm của bản thân tôn giáo. Do đó, việc nhìn nhận và phát huy có hiệu quả các nguồn lực tôn giáo trên địa bàn tỉnh góp phần quan trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững thế trận an ninh nhân dân làm cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững của tỉnh nhà.
Thanh Tiến

Đoàn công tác của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và Ban Trị sự GHPG Việt Nam tỉnh Đồng Nai trao tặng 22 căn nhà Đại đoàn kết và 200 phần quà tại tỉnh Điện Biên với tổng giá trị 1,2 tỷ đồng