Có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn lực xuất phát từ cách tiếp cận, loại hình nguồn lực. Đối với một quốc gia, nguồn lực là tổng thể vị trí địa lý, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối, chính sách, vốn và thị trường... ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển của quốc gia đó. Tuy nhiên, mỗi bộ phận, thành phần xã hội lại có nguồn lực riêng của nó, bao hàm những giá trị vật chất và tinh thần được sử dụng phục vụ cho sự phát triển của một quốc gia. Do vậy, theo cách hiểu chung nhất, “nguồn lực là tổng thể lực lượng vật chất và tinh thần được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng để phục vụ cho sự phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh của một quốc gia”.
Tôn giáo là một thực thể, là bộ phận cấu thành trong xã hội và cũng là nguồn lực quan trọng của một quốc gia. Nguồn lực của tôn giáo không chỉ về mặt tinh thần, mà còn là yếu tố vật chất, đóng góp cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, cùng với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước, nguồn lực tôn giáo càng thể hiện rõ tiềm năng của nó; trên phương diện tinh thần, tôn giáo đã và đang góp phần vào việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, điều chỉnh các hành vi đạo đức, lối sống nhằm giảm thiểu mặt tiêu cực của xã hội, định hướng các giá trị truyền thống xã hội; trên phương diện vật chất, nguồn lực tôn giáo thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là y tế, giáo dục, từ thiện nhân đạo và bảo trợ xã hội, đã và đang góp phần không nhỏ cho sự phát triển bền vững của đất nước. Từ đó, có thể nói “Nguồn lực tôn giáo là tổng thể lực lượng tinh thần, vật chất của tổ chức, cá nhân tôn giáo, được định hướng bởi giáo lý, giáo luật và niềm tin tôn giáo, được các tôn giáo sử dụng không chỉ phục vụ cho sự phát triển của tôn giáo mà còn góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất cho Nhân dân”.
Nguồn lực tôn giáo cơ bản được thể hiện ở hai phương diện nguồn lực tinh thần và nguồn lực vật chất. Hai loại nguồn lực này được thể hiện ở hai dạng hoạt động (hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội), luôn song hành, thúc đẩy lẫn nhau trong cùng một chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân tôn giáo. Ở bất cứ thời kỳ nào các tổ chức tôn giáo luôn duy trì và phát triển song song hai loại hình hoạt động này. Bởi vì, hoạt động tôn giáo tách biệt khỏi hoạt động xã hội thì tôn giáo đó chỉ là hoạt động thực hành các lễ nghi tôn giáo một cách thuần túy; còn tôn giáo chỉ chú trọng hoạt động xã hội thì lại đánh mất căn tính tinh thần của tôn giáo. Do vậy, cụm từ “đạo - đời” trong tôn giáo đã thể hiện nội hàm của hai vấn đề hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo. Do đó, hoạt động tôn giáo tốt chính là tiền đề để tổ chức tôn giáo hoạt động xã hội tốt và ngược lại hoạt động xã hội tốt chính là cơ sở để phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo trong cộng đồng, đồng nghĩa với việc phát huy ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống xã hội.Trước đây, tôn giáo thường được nhìn nhận là một phạm trù tinh thần thuộc hình thái ý thức xã hội, với chức năng “thuốc phiện”, tôn giáo chỉ là một sự bù đắp tinh thần cho con người. Tuy nhiên, ngay từ khi tôn giáo bị xem là “thuốc phiện” nó đã có những đóng góp nhất định đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật và cả khoa học. Khi mới ra đời, tôn giáo từng có khát vọng giải phóng con người khỏi sự nghèo đói, ách áp bức, bất công và phân biệt chủng tộc. Tôn giáo cũng đã rất nỗ lực trong việc cải thiện các định chế xã hội. Sau các cuộc cải cách tôn giáo ở châu Âu hồi thế kỷ XVI, với tính chất tư sản hóa, cộng hòa hóa, dân chủ hóa giáo hội, đạo Tin Lành ra đời đã tạo ra một động lực thúc đẩy sự hình thành thiết chế tư bản chủ nghĩa ở châu Âu. Tôn giáo cũng là nguồn cảm hứng sáng tạo nên các tác phẩm bất hủ trong kiến trúc, hội họa, âm nhạc, thi ca. Nền thần học Kitô giáo và triết học Phật giáo đã từng chi phối đến sự phát triển của khoa học xã hội và nhân văn ở cả phương Đông và phương Tây. Đạo đức, luân lý tôn giáo được ghi nhận là có tác dụng giáo hóa con người, hướng họ đến sự hoàn thiện nhân cách. Thời nay, tôn giáo cũng đã tỏ rõ thái độ, nghĩa vụ và trách nhiệm trước các vấn nạn của xã hội hiện đại như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh, khủng bố. Điều đó một lần nữa cho thấy, chức năng xã hội của tôn giáo không chỉ hướng con người đến mục tiêu lý tưởng là có được “một vị trí trên thiên đường” mà còn hướng con người đạt được “một vị trí thích hợp trong xã hội trần thế này” bằng cách giúp họ nâng cao đời sống của bản thân với những hoạt động rất thiết thực của tôn giáo như giáo dục, dạy nghề, chữa bệnh, hỗ trợ việc làm, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường.
Do đó, phạm trù “nguồn lực tôn giáo” xuất hiện ở Việt Nam trong những năm gần đây và chính thức được khẳng định trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước” không phải là một phát hiện mới về công năng xã hội của tôn giáo, mà đó chỉ là tái khẳng định, tôn giáo là một nguồn lực đóng góp cho sự phát triển của nhân loại. Tuy nhiên, nguồn lực đó được khai thác, phát huy thế nào phụ thuộc rất nhiều vào bối cảnh, điều kiện khách quan của xã hội và ý muốn chủ quan của nhà cầm quyền.
Đồng Nai là địa bàn có nhiều tôn giáo và có đông chức sắc, tín đồ các tôn giáo sinh sống. "Toàn tỉnh có 42 tổ chức thuộc 11 tôn giáo đang hoạt động như: Công giáo, Phật giáo, 27 hệ phái Tin Lành (07 hệ phái được công nhận về mặt tổ chức, 02 hệ phái được cấp đăng ký hoạt động, 18 hệ phái chưa được công nhận), 06 hệ phái Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam, Tứ ân Hiếu nghĩa, Hồi giáo (Islam), Bửu sơn Kỳ hương, Cơ đốc Phục Lâm Việt Nam, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kitô. Có 2.289.040 tín đồ các tôn giáo (chiếm 70% dân số toàn tỉnh); 1.796 cơ sở thờ tự; 03 trường đào tạo tôn giáo; 1.975 chức sắc, 9.146 nhà tu hành; 28.846 chức việc. Đồng bào các tôn giáo ở Đồng Nai cư trú rộng khắp các địa bàn, đông nhất là các huyện: Trảng Bom, Thống Nhất, Long Thành và thành phố Biên Hòa. Toàn tỉnh có 11/11 huyện, thành phố và 110/170 xã, phường có trên 30% dân số là người có đạo, trong đó có 32 xã, phường có trên 90%. Do đó, tỉnh Đồng Nai có nguồn lực tôn giáo rất phong phú, đa dạng thể hiện qua các nội dung như sau:
Về nguồn lực vật chất
Về đất đai: Tổng diện tích đất đai hiện các cơ sở tôn giáo đang quản lý, sử dụng là 18.917.534,2 m2. Về cơ sở xã hội: Tổng số cơ sở giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội do các tôn giáo tạo lập, quản lý là 220 cơ sở. Trong đó: 43 cơ sở y tế (chiếm 1,19% tổng số cơ sở y tế, 2,43% số cơ sở y tế ngoài công lập trên địa bàn tỉnh) [1], 140 cơ sở giáo dục[2], 37 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực bảo trợ xã hội[3].
Ngoài hoạt động bảo trợ xã hội, các tổ chức tôn giáo ở Đồng Nai đặc biệt chú trọng cứu trợ khẩn cấp đồng bào bị thiên tai, ủng hộ xây dựng nhà tình nghĩa, nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; trợ cấp học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo hiếu học; xây dựng đường sá, trường mẫu giáo, trường tiểu học; thăm viếng thương binh, bệnh binh và bệnh nhân nghèo tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 2, nhà dưỡng lão,… (Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Đồng Nai: Với phương châm công tác từ thiện xã hội là hoạt động Phật sự đạo đức mang tính tích cực và trong sáng, thể hiện tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật, là một trong những công tác quan trọng của Giáo hội, do đó trong 05 năm 2017-2022, tăng, ni, phật tử Đồng Nai đã thực hiện từ thiện với tổng trị giá được quy đổi thành tiền là: 757,5 tỷ đồng; Đối với Giáo phận Xuân Lộc: Trong những năm qua, chỉ riêng Ban Bác ái Xã hội thuộc Giáo phận Xuân Lộc đã vận động, quyên góp cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt tại các tỉnh thành với kinh phí hàng chục tỷ đồng. Ngoài ra, hưởng ứng lời kêu gọi trong chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, cùng với các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn, Giáo phận Xuân Lộc đã kêu gọi các giáo xứ, chức sắc, tu sĩ, chức việc và giáo dân chung tay, góp sức cùng cấp ủy, chính quyền các cấp ở Đồng Nai thực hiện tốt công tác xã hội hóa giao thông, với số tiền hàng năm lên đến hàng trăm tỷ đồng. Đồng thời, Giáo phận Xuân Lộc đã hưởng ứng tích cực (nhận nuôi dưỡng 02 Mẹ Việt Nam anh hùng, tham gia xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa, cứu trợ thiên tai…).
Về nguồn nhân lực
Về chức sắc: Toàn tỉnh có 1.975 chức sắc, gồm: Phật giáo 929, Công giáo 693, Tin Lành 158, Cao Đài 180, Hồi giáo 05, Tinh Độ Cư Sĩ Phật Hội 06, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm 04. Về nhà tu hành: Toàn tỉnh có 9.146 nhà tu hành, gồm: Phật giáo 5.594, Công giáo: 3.552. Về chức việc: Toàn tỉnh có 28.846 chức việc, gồm: Phật giáo 840, Công giáo 26.135, Tin Lành 1.135, Cao Đài 593, Phật giáo Hòa Hảo 49, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội 60, Hồi giáo 12, Tứ Ân Hiếu Nghĩa 07, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm 10, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô 05. Về tín đồ: Toàn tỉnh có 2.289.040 tín đồ, gồm: Phật giáo 1.000.000, Công giáo 1.240.149, Tin Lành 18.400, Cao Đài 23.097, Phật giáo Hòa Hảo 1.830, Hồi giáo 2.905, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật Hội 2.096, Tứ Ân Hiếu Nghĩa 306, Bửu Sơn Kỳ Hương 07, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm 215, Giáo hội các thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô 35[4].
Về nguồn lực tinh thần
Nguồn lực tinh thần của tôn giáo chính là giá trị đạo đức, giá trị văn hóa tôn giáo. Những giá trị này được thể hiện trong hệ thống giáo lý, giáo luật và những điều răn, giới cấm nhằm điều chỉnh ý thức, hành vi của tín đồ và được tín đồ tin theo một cách tự nguyện, tự giác. Giá trị đó, ngoài việc bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng, còn đề cập đến những chuẩn mực đạo đức chung như sống hiếu thảo, trung thực, nhân ái, hướng tới điều lành, tránh xa điều ác. Trong hoạt động tôn giáo, thông qua các lễ nghi các nhà lãnh đạo tôn giáo luôn lấy đó làm chuẩn mực để khuyên dạy tín đồ thực hiện. Niềm tin tôn giáo đã trở thành nhu cầu của một bộ phận người dân, giúp họ vượt qua những khó khăn, bế tắc trong cuộc sống, hy vọng một tương lai tươi sáng hơn. Giá trị đạo đức tôn giáo là bệ đỡ tinh thần giúp tín đồ sống trách nhiệm với lối sống lành mạnh hơn.
Đạo đức tôn giáo không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến một bộ phận người dân mà còn đóng góp vào quá trình xây dựng đạo đức, văn hóa Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc, văn hóa, đạo đức tôn giáo không bất biến mà luôn có sự điều chỉnh qua từng thời kỳ sao cho phù hợp với đời sống xã hội và được xã hội chấp nhận. Các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của Phật giáo đã làm sâu sắc và phong phú những giá trị truyền thống văn hóa Việt Nam về quan niệm từ bi, hỉ xả, vô ngã vị tha, lục hòa cộng trụ hay về luật nhân quả. Giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của Công giáo được thể hiện ở 10 điều răn, trong đó có 07 điều khuyên răn về đạo đức làm người. Đạo đức Islam đã đem lại những giá trị quý báu, đặc sắc về văn hóa, phong tục tập quán của dân tộc Chăm. Các giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo nội sinh như: Bửu sơn Kỳ hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Tịnh độ cư sỹ Phật hội,… với tư tưởng thực hành tứ ân, cùng với đạo Hiếu của Nho giáo, Công giáo, đạo thờ cúng tổ tiên góp phần làm phong phú thêm truyền thống uống nước nhớ nguồn, biết ơn những người có công với đất nước, với nhân dân. Những chuẩn mực này góp phần không nhỏ trong nguyên tắc ứng xử phù hợp trong xã hội, rất hữu ích trong việc duy trì đạo đức xã hội và xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới như mục tiêu mà Đại hội XIII của Đảng đã đề cập. Với một địa bàn có 70% dân số là người có đạo, do đó, tác động của niềm tin, đức tin tôn giáo với đời sống xã hội của tỉnh Đồng Nai là rất lớn. Do vậy, nếu niềm tin, đức tin tôn giáo được tác động dưới chiều kích tích cực đến quần chúng tín đồ tôn giáo, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, còn ngược lại sẽ tác động xấu đến sự phát triển của xã hội.
Tuy nhiên, hiện nay nguồn lực tôn giáo trên địa bàn tỉnh còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, cụ thể:
- Chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa cụ thể hóa đầy đủ chủ trương của Đảng và đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát huy nguồn lực tôn giáo đóng góp cho sự phát triển đất nước. Về mặt quan điểm, đường lối, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tạo điều kiện và khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo trên tinh thần tôn trọng những quy định của pháp luật và phù hợp với hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo. Điều 55 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Được tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo theo qui định của pháp luật liên quan”, nhưng đến nay những quy định của luật pháp liên quan vẫn chưa được làm rõ. Đồng thời, trên thực tế chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy nguồn lực các tôn giáo còn hạn chế, bất cập, chồng chéo.
Đối với Luật Dạy nghề: Đào tạo nghề là thế mạnh của các tổ chức tôn giáo, nhất là Công giáo, trong số 12 trường dạy nghề của tôn giáo, hiện đã có 01 trường ở bậc cao đẳng nghề. Tuy nhiên, Luật Dạy nghề chưa có những quy định cụ thể về việc các tổ chức tôn giáo được mở trường dạy nghề, phần lớn hiện nay là trung tâm hoặc cơ sở dạy nghề thuộc tôn giáo, khi ra trường học viên chỉ được cấp giấy chứng nhận nghề từ cơ sở đào tạo. Trong khi nhiều trung tâm dạy nghề đã đạt tới mức trường nghề nhưng về mặt pháp lý chỉ mới dừng lại ở trung tâm. Hạn chế này đã gây khó khăn cho các học viên khi ra trường xin việc ở các nhà máy, xí nghiệp khu vực công, khó khăn cho các tổ chức tôn giáo trong công tác quản lý, điều hành; đồng thời, cũng chưa tạo được cơ sở pháp lý chặt chẽ trong việc thanh tra, kiểm tra, quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Đối với Luật Khám bệnh, chữa bệnh: khám bệnh, chữa bệnh cũng là lĩnh vực mà các tổ chức tôn giáo luôn quan tâm và là một trong những lĩnh vực gắn liền với bản chất từ bi, bác ái của tôn giáo. Hoạt động khám chữa bệnh thể hiện cả trong lĩnh vực đông y và tây y, có cơ sở tôn giáo đồng nhất với phòng thuốc nam, đối tượng phục vụ ưu tiên người nghèo. Trong nhiều năm qua các tổ chức tôn giáo đã thực hiện nhiều các hoạt động khám chữa bệnh cho người dân nhất là vùng nghèo. Bên cạnh đó, các tổ chức tôn giáo có thế mạnh là có đội ngũ nhân sự có trình độ chuyên môn, có thái độ phục vụ tận tình và huy động được nguồn vốn cả trong và ngoài nước để phục vụ hoạt động khám chữa bệnh. Tuy nhiên, Luật Khám bệnh, chữa bệnh hiện nay đang giới hạn tổ chức tôn giáo tham gia với tư cách cá nhân, mở phòng khám tư, chưa quy định các tổ chức tôn giáo được mở bệnh viện hay các trung tâm chuyên biệt hoạt động trong lĩnh vực y tế. Do vậy, chưa khai thông được nguồn lực của họ trong việc phục vụ cộng đồng.
Đối với các quy định của pháp luật trong lĩnh vực bảo trợ xã hội: Các cơ sở bảo trợ xã hội, là nơi nuôi dưỡng những người đã mất khả năng lao động và mất khả năng tự chăm sóc bản thân thì Nhà nước cần tính đến không chỉ cơ chế, chính sách mà còn hỗ trợ về cơ sở vật chất, nguồn kinh phí để các tổ chức tôn giáo thuận lợi trong điều hành và quản lý, cùng với nhà nước chăm lo cho những người yếu thế, góp phần cùng với các tổ chức khác và nhà nước giảm tải gánh nặng xã hội. Tuy nhiên, hiện tại các văn bản quy phạm pháp luật (nghị định, thông tư) chưa quy định cụ thể, rõ ràng về chính sách hỗ trợ để động viên, khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp nhiều hơn cho xã hội.
Đối với Luật Giáo dục: Kể từ ngày 01/7/2020, Luật Giáo dục 2019 cho phép tổ chức tôn giáo hợp pháp, chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo là chủ thể được tham gia vào hoạt động trong hệ thống giáo dục quốc dân, được góp vốn, đầu tư mở trường tư thục, dân lập theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc bởi do vấn đề mới, chưa được hướng dẫn thực hiện chi tiết, cụ thể bởi các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương. Do vậy, thực tiễn rất cần có những quy định cụ thể để tổ chức, cá nhân các tôn giáo có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được tham gia, thực hiện.
Việc tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội là một nhu cầu bức thiết, vừa để khẳng định vị thế, vừa để thực hiện các chức năng xã hội của tôn giáo nên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, nhà tu hành thường xuyên đề xuất Nhà nước cần có chính sách đổi mới chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội sao cho phát huy được các nguồn lực vật chất, trí tuệ của tôn giáo vào sự nghiệp phát triển đất nước. Chính sách, pháp luật chưa quy định rõ ràng về mức độ tham gia của các tổ chức tôn giáo trong các lĩnh vực, việc cho phép các cá nhân, tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội ở loại hình nào, phạm vi và mức độ đến đâu, các tổ chức tôn giáo có được thành lập trường phổ thông, đại học hay bệnh viện không?,... Dẫn đến nhiều tổ chức rơi vào tình trạng “lực bất tòng tâm”, thừa lòng nhiệt huyết nhưng lại thiếu khả năng tự xây dựng và quản lý hệ thống các trường học, bệnh viện của mình một cách độc lập. Từ những hạn chế trên, dẫn đến trong thực tế có hiện tượng “lách luật”, một số cơ sở từ thiện về thực chất là do các giáo xứ, dòng tu Công giáo trực tiếp điều hành, quản lý, nhưng về mặt danh nghĩa lại do một cá nhân, hoặc tổ chức khác đứng tên. Việc các tu sĩ, linh mục đứng tên với tư cách công dân để phù hợp với quy định của pháp luật, thì lại mâu thuẫn với quy định của tổ chức tôn giáo, rằng tài sản của tổ chức tôn giáo không phải là của cá nhân các chức sắc, nhà tu hành.
Thực tế này đang đặt ra yêu cầu đối với Nhà nước cần sớm đổi mới và hoàn thiện các chính sách, pháp luật cũng như tăng cường công tác quản lý để đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn nhằm huy động các nguồn lực vật chất của tôn giáo, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời vẫn tuân thủ các quy định của pháp luật khi tham gia công tác từ thiện, nhân đạo.
- Một bộ phận cán bộ trong hệ thống chính trị chưa nhận thức đầy đủ về công tác tôn giáo và việc phát huy nguồn lực các tôn giáo ở Đồng Nai đóng góp cho sự phát triển tỉnh Đồng Nai và phát triển đất nước
Tuy đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, nhưng công tác quán triệt, tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo trong cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác tôn giáo ở một số nơi còn hạn chế; một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đúng về vai trò của công tác tôn giáo và công tác vận động, tranh thủ chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo; vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên nhìn tôn giáo với cái nhìn ít thiện cảm; còn tồn tại nhận thức khác nhau giữa các cấp, các ngành, các địa phương trong xử lý một số vấn đề cụ thể; có nơi còn chủ quan, buông lỏng quản lý nhưng có nơi lại quá chặt chẽ, khắt khe, thậm chí cản trở, cấm đoán gây bức xúc đối với chức sắc, nhà tu hành, tín đồ, tạo cớ cho các thế lực xấu, thù địch lợi dụng xuyên tạc chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.
Một số nơi cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên chưa nhìn nhận những giá trị tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt là đóng góp của tôn giáo trong các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội để quan tâm giải quyết và chủ động đáp ứng nhu cầu chính đáng, hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Chính vì vậy, chưa có những giải pháp thiết thực, hiệu quả huy động nguồn lực của các tổ chức tôn giáo đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Bên cạnh đó, các ban, ngành, địa phương chưa thống nhất nhận thức về phạm vi tham gia các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội của các cá nhân, tổ chức tôn giáo nên lúng túng trong khi giải quyết. Một số địa phương nhìn nhận vấn đề từ thiện dưới khía cạnh dễ bị lợi dụng để truyền giáo và tuyên truyền tiêu cực, nên quản lý khá chặt, ít tạo điều kiện. Trong khi đó, cũng có một số địa phương, nhất lại nhìn nhận mặt tích cực của nó, từ đó có sự quan tâm và ủng hộ, vận dụng linh hoạt để các tổ chức tôn giáo được phép mở các cơ sở giáo dục, y tế, từ thiện, bảo trợ xã hội.
- Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, phát huy nguồn lực các tôn giáo ở Đồng Nai đóng góp cho sự phát triển tỉnh Đồng Nai và phát triển đất nước chưa đáp ứng tốt yêu cầu thực tiễn
Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, về phát huy nguồn lực các tôn giáo đóng góp cho sự phát triển của xã hội còn hạn chế. Không ít nơi còn biểu hiện mệnh lệnh hành chính, phiền hà, cứng nhắc gây bức xúc trong chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo trong giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội của các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo.
Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành xử lý, giải quyết những vấn đề liên quan đến tôn giáo vẫn còn có vụ việc chưa chặt chẽ, chưa đồng bộ, còn kéo dài, nhất là trong giải quyết các vấn đề liên quan đến giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức tôn giáo; vấn đề liên quan đến chấp thuận chủ trương xây dựng, cấp phép xây dựng công trình, kiến trúc của các tổ chức, cơ sở tôn giáo dẫn đến bức xúc của một số chức sắc, nhà tu hành, chức việc tôn giáo.
- Các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành, chức việc tôn giáo chưa nhận thức và phát huy cao nhất nguồn lực của tôn giáo mình đóng góp cho xã hội
Mặc dù có nhiều ưu điểm và thành tựu trong hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội, nhưng việc phát huy nguồn lực của các tổ chức tôn giáo vẫn còn đặt ra nhiều vấn đề từ chính các tổ chức tôn giáo.
Một là, các hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội của tôn giáo thường thiếu tính hệ thống, tính tổ chức, ngoại trừ Công giáo có tính chuyên nghiệp hơn. Các ban từ thiện, bác ái của tôn giáo cũng thiếu quy định nhất quán về hoạt động. Hạn chế về nguồn tài trợ ổn định nên khó khăn và bị động trong quá trình hoạt động. Một số tổ chức tôn giáo mới chỉ dừng lại ở phát huy nguồn lực vật chất, tinh thần trong phạm vi huy động sự đóng góp để xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự; chưa phát động nhiều phong trào quyên góp từ thiện xã hội.
Hai là, nguồn nhân lực của các tổ chức tôn giáo trong hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện, bảo trợ xã hội còn thiếu về số lượng, tính chuyên nghiệp chưa cao, chưa đầu tư đào tạo bài bản về chuyên môn, nghiệp vụ.
Ba là, cơ sở vật chất, trang thiết bị trong lĩnh vực y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội còn thiếu thốn, lạc hậu. Một số trung tâm bảo trợ xã hội của các tôn giáo có cơ sở vật chất xuống cấp, thiếu các trang thiết bị phục vụ, nhưng chưa có điều kiện sửa chữa, bổ sung, nâng cấp. Nhiều lớp mẫu giáo, lớp xóa nạn mù chữ, dạy nghề tình thương phải học nhờ tại khuôn viên của nhà thờ, dòng tu, nhà chùa, gây nhiều bất tiện cho hoạt động tôn giáo của giáo hội và hoạt động giáo dục của nhà trường.
Bốn là, hiện nay vẫn còn một số cơ sở xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo chưa thực hiện đúng các quy định của ngành, lĩnh vực quy định như: thành lập và hoạt động khi chưa được sự chấp thuận của cơ quan chức năng. Có hiện tượng thành lập các cơ sở bảo trợ xã hội để thu hút hoặc ép buộc đối tượng xã hội theo tôn giáo này, bỏ tôn giáo khác, tạo thanh danh cho tôn giáo mình hoặc có những trường hợp lợi dụng danh nghĩa cơ sở bảo trợ xã hội thuộc các tôn giáo để thu hút nguồn lực từ các mạnh thường quân, từ đó, trục lợi gom góp các nguồn lực để làm giàu, tạo thân thế cho bản thân. Có hiện tượng thông qua hoạt động từ thiện xã hội không tuân thủ quy định của pháp luật có liên quan, lợi dụng hoạt động này để khuếch trương thanh thế và truyền đạo trái pháp luật.
Thanh Tiến

Trường Cao đẳng nghề Hòa Bình Xuân Lộc, Trường Cao đẳng dạy nghề đầu tiên của cả nước do Công giáo thành lập và hiện đang hoạt động rất hiệu quả

Ban Trị sự GHPGVN thành phố Biên Hòa ủng hộ 220.000.000 đồng trong chương trình “Xuân yêu thương - Tết chia sẻ” dịp tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024
[1]Bình quân hằng năm 157.000 lượt người được khám, cấp thuốc tại các phòng chuyên khoa; 200.000 lượt người khám, cấp thuốc tại các phòng chẩn trị y học cổ truyền, các cơ sở y tế khác của các tổ chức tôn giáo. Ngoài ra, các tổ chức tôn giáo cũng đã quyên góp, ủng hộ cho hoạt động y tế, chương trình y tế của các địa phương, với tổng số tiền hàng năm lên đến hàng chục tỷ đồng.
[2]Trong 140 cơ sở giáo dục do các tổ chức tôn giáo ở Đồng Nai quản lý tập trung nhiều nhất vẫn là lĩnh vực giáo dục mầm non với 130 trường và nhóm trẻ (chiếm 11,89% tổng số cơ sở giáo dục mầm non, chiếm 14,87% số cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn tỉnh); giáo dục cấp tiểu học 02 trường (01 trường tiểu học và 01 lớp tiểu học tình thương); dạy nghề 01 trường, với số người được thụ hưởng gần 20 nghìn lượt người/năm và số người tham gia thực hiện là 1.266 lượt người. Ngoài 140 cơ sở giáo dục, tại Đồng Nai hiện nay có khoảng trên 200 lớp học tình thương, xóa mù chữ do các tổ chức tôn giáo thực hiện, tập trung nhiều tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các lớp học tình thương tập trung vào đối tượng chủ yếu là những trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em mồ côi, lang thang cơ nhỡ… không có điều kiện để đến trường để học tập. Đây là các lớp học mang tính kết hợp trong hoạt động tôn giáo, nên các tổ chức tôn giáo trực thuộc không thu tiền học phí và không đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Thậm chí một số tổ chức tôn giáo còn tài trợ sách, vở miễn phí để cho các em có điều kiện được tham gia học tập.
[3]Các cơ sở trợ giúp xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo chăm sóc, nuôi dưỡng 1.000 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số 210 nhân viên. Bình quân 1 cơ sở trợ giúp xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo chăm sóc, nuôi dưỡng gần 30 đối tượng bảo trợ xã hội. Bên cạnh đó, có khoảng 20 cơ sở trợ giúp xã hội của các tổ chức tôn giáo đang nuôi dưỡng, chăm sóc từ 10 đối tượng bảo trợ xã hội trở lên chưa thực hiện thủ tục thành lập theo quy định của pháp luật. Các cơ sở trợ giúp xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo không chỉ hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội là tín đồ tôn giáo mà còn là những người có hoàn cảnh khó khăn, không phân biệt tôn giáo tại các địa phương.
[4]Đối với hỗ trợ nhân lực tham gia tuyến đầu phòng chống dịch:Thực hiện đề nghị của chính quyền và các Văn thư kêu gọi của các tổ chức tôn giáo, Tòa Giám mục Xuân Lộc, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh phối hợp với Ban Tôn giáo tỉnh (Sở Nội vụ) tổ chức lễ ra quân, giao nhiệm vụ cho 576 tình nguyện viên là chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tham gia tuyến đầu phòng, chống dịch COVID-19 tại các bệnh viện, bệnh viện dã chiến, Trung tâm y tế và Khu cách ly tập trung điều trị bệnh nhân COVID-19 trên địa bàn tỉnh. Theo số liệu của Ban Tôn giáo tỉnh (Sở Nội vụ), các tổ chức, chức sắc, nhà tu hành, chức việc các tôn giáo trên địa bàn tỉnh đã quyên góp, ủng hộ: Giáo hội Phật giáo: Ủng hộ Quỹ Vắc xin phòng, chống COVID-19 Việt Nam: 2.504 triệu đồng; Hỗ trợ vật tư, thiết bi y tế: Cồn sát khuẩn, nước rửa tay, găng tay y tế, khẩu trang, quần áo bảo hộ y tế, túi thuốc F0, máy tạo oxy, máy đo SPO2, bình oxy,… trị giá hàng tỷ đồng; Hỗ trợ lương thực, thực thẩm: Trị giá 44.243 triệu đồng. Giáo hội Công giáo: Ủng hộ Quỹ Vắc xin phòng, chống COVID-19 Việt Nam: 2.490 triệu đồng; Tặng 06 máy thở cao cấp CARESCAPE R860 cho các bệnh viện của tỉnh; Hỗ trợ lương thực: Hàng nghìn tấn thịt, gạo, rau, củ, quả, nước uống,... Các tôn giáo khác: Ủng hộ Quỹ Vắc xin phòng, chống COVID-19 Việt Nam: 111 triệu; Hỗ trợ lương thực, thực thẩm: Trị giá gần 03 tỷ đồng.